
Việc cụ thi đậu Thái học sinh có nhiều tài liệu khác nhau, chỗ nói năm 1393, chỗ viết năm 1396. Đối chiếu qua văn bia làng Đông Ngạc, qua “Từ điển văn học Việt Nam”, qua phần “Biệt lục và Bổ di” trong “Các Nhà khoa bảng Việt Nam” còn “bỏ sót”, thì thấy cụ đỗ Thái học sinh khoa Quý Dậu, niên hiệu Quang Thái (1393) là đúng hơn cả. Đầu triều Lê cụ lại ứng thí đỗ khoa Minh Kinh, năm Thuận Thiên thứ hai (1429). Cụ là người đỗ đại khoa đầu tiên làng Đông Ngạc. Sau khi đỗ khoa Minh Kinh, đời Lê Thái Tổ, cụ được bổ làm Đồng tu sử ở Viện Quốc sử. Trong thời gian đó, cụ biên soạn sách “Việt âm thi tập” với tâm niệm để khỏi “rơi rụng đi những hạt châu trong biển xanh mờ mịt…”. Ít lâu sau, cụ được cử giữ chức An phủ sứ phủ Thiên Trường. Theo Khâm Việt sử thông giám cương mục, cụ từng giữ chức Quốc Tử Giám bác sĩ, dạy học ở Quốc Tử Giám. Năm Diên Ninh thứ hai (1455), vua Lê Nhân Tông giao cho cụ soạn sách “Đại Việt sử kí tục biên”, chép việc từ đời Trần Thái Tông đến khi người Minh rút về nước (1225-1425). Cụ là người khởi thảo và đồng soạn hợp quyển “Việt âm thi tập”; là tác giả “Đại Việt sử kí tục biên” và bộ “Quốc triều luật lệnh”. Các phần “Đại Việt sử kí tục biên” có thể đã được Ngô Sĩ Liên kế thừa trong “Đại Việt sử kí toàn thư”. Trong đó còn ghi rõ 10 đoạn bình luận của Phan Phu Tiên; thể hiện tài năng, khí tiết và chính kiến của cụ: Thái Tông là ông vua sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc để truyền lại cho đời sau. Lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cả luân thường, mở lối dâm loạn đó ư?… Xét ra sau này Trần Dụ Tông dâm loạn làm càn chưa hẳn không do Thái Tông đầu têu vậy (trang 20-21).

…Luật pháp nhà Trần nghiêm cấm đánh bạc đến như vậy, thế mà đến đời Dụ Tông lại công nhiên làm vậy, gọi những người giàu vào cung đánh bạc rồi sau người trong nước bắt chước cái dở ấy, không thể ngăn cấm được nữa, cuối cùng vì tệ đánh bạc mà rồi mất nước (trang 110).
Đối với việc Hoàng Quý Ly nhận mình là dòng dõi xa của Ngu Thuấn ở Trung Quốc rồi đổi tên nước thành Đại Ngu. Phan Phu Tiên dẫn lời Khổng Tử và một số điển tích ở Trung Quốc phê phán kịch liệt: Khổng Tử nói: “Không phải ma nhà mình mà cúng là siểm định”. Quý Ly nhận mình là dòng dõi xa của Hồ Công Mãn, tế Ngu Thuấn là Thủy Tổ thì cái tội dối đời để tiếm ngôi thực không gì to bằng.
Phan Phu Tiên bàn về những người được đưa vào thờ ở Văn Miếu:
Bậc danh nho các đời có người nào bài bác dị đoan, truyền bá đạo thống, thì mới được tòng tự ở Văn Miếu, để tỏ đạo học có nguồn gốc. Nghệ cho Chu Văn An, Trương Hán Siêu, Đỗ Tử Bình được tòng ở Văn Miếu; Hán Siêu là người chính trực, bài bác đạo Phật, tu sửa mình trong sạch, giữ bền khí tiết, không vụ hiển đạt, là có thể được. Còn như Tử Bình là hạng học nhảm, chiều người, tham ô vơ vét, là kẻ gian thần hại nước, sao lại được xem vào đấy?
Phan Phu Tiên vốn là nhà giáo nên rất có ý thức tự sửa mình, cũng như giáo dục đời sau. Ông đã làm bài thơ chữ Hán “Ấu nhi học, trang nhi hành”, là một trong ba bài, chép trong “Toàn Việt thi lục” do Lê Quý Đôn tuyển chọn.
Bản dịch của Vân Trình: “Làm người nên học/ Trẻ mà không học khó làm nên/ Tự thẹn già nua trót kém hèn/ Ôn cũ sau này mong biết mới/ Vào nhà ắt phải bước qua hiên?/ Được theo lễ nhạc bậc tiền bối/ Nguyện lấy thi thư giúp thiếu niên/ Muôn vật được nhuần mưa móc gội/ Đầu Xuân hi vọng tốt tươi lên”.
Bẩy chi họ Phan làng Đông Ngạc tuy có đủ từ đường, nhưng không còn tư liệu để phân ngôi thứ; mãi đến năm Minh Mệnh thứ năm (1834), đại diện các chi đã họp lại, chọn 7 ngôi sao đẹp trong “Nhị thập bát tú”, đặt tên cho chi mình. Chi Đẩu, chi Khuê, chi Cơ, chi Sâm, chi Vị, chi Bích và chi Trương.
Việc đặt tượng đá chân dung cụ, nhìn lên nhà thờ Đại tôn chi Đẩu, bức hoành phi “Khai tất tiên” – Người khai đầu tiên; khai khoa, khai canh, khai sáng… và đôi câu đối “Lưỡng chúng đăng long Đông Ngạc khai khoa dương trí tuệ/ Tạm biên chứ tác thủy tổ Phan gia quốc hoàng ân” (Hai lần đỗ tiến sĩ khai khoa cho làng Đông Ngạc/ Ba lần viết tác phẩm để lại cho đời thủy tổ họ Phan đất nước biết tên). Họ tộc thống nhất chọn nhà thờ chi Đẩu là nơi yên vị đặt tượng cụ giữa khuôn viên trước cửa từ đường.
Phan Phu Tiên, nhà Sử học, Văn học khởi đầu; người nối chí Lê Văn Hưu, người dọn đường cho nhóm Ngô Sĩ Liên hoàn thành bộ “Đại Việt sử kí toàn thư”; nhà giáo, nhà nho kì cựu có ý thức sưu tầm biên soạn thơ văn thành hợp tuyển… ông xứng đáng là một nhân sĩ cấp tiến giữa “Hà Nội – Đông Đô” bấy giờ. Tấm gương ấy lấp lánh như chùm sao bảy sắc từ làng Đông Ngạc sáng bừng lên mãi mãi.
Phạm Ngọc Khảnh
NCT











