Đức Thọ

Những chảo hến ở bến sông

Làng hến tồn tại đã ngót nghét 300 năm, những bếp lửa luôn đỏ rực, những bàn tay thoăn thoắt, những xảo hến liên tục được đảo qua. Cảnh tượng nhộn nhịp và không khí làm việc đầy yên vui.

Bến sông còn lại làng nghề

Buổi trưa, làng hến vẫn tấp nập người, chỉ có mấy chú vịt chao mình trên mặt nước. Bên bến sông, một chị phụ nữ chừng 35 tuổi vẫn ngồi cặm cụi bên mẻ hến, đãi cho được những con hến bằng đôi bàn tay trần ngâm trong nước nóng. Chị cho biết: “Nghề hến xuất hiện ở đây lâu lắm rồi. Cái tên Bến Hến liền với nghề ở xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh nhờ nhiều giai thoại lắm. Một thời gian cả làng nghỉ nghề do chiến tranh, sau hòa bình mới làm lại. Mấy ông già của làng từ nhỏ đã lội sông cào hến đã qua đời rồi. Thời chúng tôi cũng làm nghề cào hến đến tận bây giờ”.

Bến Hến lúc nửa đêm.

Sau lưng người phụ nữ, một đoạn bãi sông trải đầy vỏ hến, chứng tích cuộc mưu sinh nhọc nhằn dầm mình trên nắng, dưới nước của những thế hệ người dân nơi đây. Mấy chiếc ảng to dùng để chao hến nằm cạnh những đống vỏ hến. Đôi tay chị những người phụ nữ làng hến cứ thoăn thoắt chao nước, lọc sạch vỏ hến, gạn để lấy những phần thịt hến ngả màu trắng vàng, là chút tinh túy của đời con hến. Một người đàn ông chừng hơn 50 tuổi thấy khách lạ cũng từ trong nhà bước ra tiếp chuyện. Thấy tôi hỏi về nghề cào hến của làng, ông thủng thẳng kể rằng, ngày trước làng ông sống được là nhờ con hến. Chẳng biết có phải vì dòng sông này yên bình hay không mà hến ở đây nhiều đến thế, cào quanh năm không hết. Chỉ cần mang cào ra, sau một lát là có đầy một thúng hến. Người trong làng cũng vì thế mà chẳng khi nào phải đói.

Gần trưa, phụ nữ đi bán hến từ khắp các chợ trong vùng cách đến mấy chục cây số tới tận Vinh, TP.Hà Tĩnh, Hồng Lĩnh hay các huyện như Hương Sơn, Hương Khê về. Họ vội vàng ăn rồi ra bến bắc chảo, chất củi. Người phụ nữ cặm cụi bên mẻ hến trên bến sông cũng góp thêm câu chuyện bằng giọng nghẹn ngào: “Hến đầu mùa còn nhỏ, dần dần mới lớn lên, nhưng thỉnh thoảng cũng cào được loại hến to còn sót lại từ năm trước!” Chị kể, với hến thì cái ruột cũng bán, cái vỏ cũng bán, cái tro cũng có tiền. Mỗi ngày đi cào khoảng 5 tiếng đồng hồ, về nấu được một chảo, được chừng 3kg ruột hến, bán được 25.000 đồng/kg, vị chi cả thảy 75.000 đồng. Trong đó còn công của phụ nữ nấu, đãi, rồi tiền củi lửa nữa… Vỏ hến bán cho người ta về nung vôi. Tro, ngày trước có nhiều vì nấu bằng rơm, lá tre, lá dương liễu… Nông dân các xã lân cận thường mua tro nấu hến về bón khoai lang hoặc rải lên cải để giữ ấm mùa đông.

Mọi người miệt mài làm việc.

“Cái cào làm bằng tre. Cái “lưới” để giữ hến, gọi là rẽ lường, làm bằng nan tre vót nhỏ. Cào bề ngang khoảng 80cm, người có sức thì làm cào lớn hơn. Cào tre để trên cạn thì khô, thả xuống nước lại nổi, nên mỗi lần găm xuống đáy sông rất cực. Giờ đây cào được thay bằng sắt, thả cào xuống nước nhẹ hơn xưa nhiều. Giờ đã có thuyền máy, cào sắt nên họ ít khi phải dầm mình trong nước, nhất là mùa đông giá lạnh.

Nhọc nhằn đời hến

Có điều, dẫu có hỗ trợ của máy móc hay gì đi nữa, người làng hến vẫn phải lội xuống sông, nước có khi đến ngang vai, có khi chỉ lúp xúp trên dưới đầu gối. Chỉ trên một quãng sông khoảng 400 m mà có tới hàng trăm gia đình đốt lò, đãi hến.

Theo con nước, nhưng thường thì nửa đêm về sáng đàn ông bắt đầu dong thuyền đi ngược sông La lên sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu hoặc ra tận sông Lam lên tới tận Nam Đàn, Đô Lương cào hến. Trừ việc chuyển từ trong bếp xuống bến sông là dùng xe cút kít, còn tất cả các công đoạn đều đè lên tấm lưng của những người phụ nữ. Nói rồi, một chị phụ nữ kéo chiếc cào xuống sát mé sông, sửa lại cái nịt cào để chuẩn bị cho buổi cào hến. Chị bảo đi cào, nửa đêm hay nửa trưa, sớm hay muộn tùy theo con nước, nước cạn giờ nào thì đi giờ đó. Nước lớn, hến nó trốn sâu xuống dưới cát là chịu không cào được. Gần đây, có một số người dùng ghe máy, nước sâu mấy cũng cào được. Công đoạn đãi sạch và đãi ruột chiếm tới 50% thời gian. Dù cho đã có ủng cao chống nước nhưng mỗi ngày phụ nữ ở đây vẫn dầm mình trong nước khoảng 4-5 giờ. Phải khoẻ và bền bỉ thì mới theo được nghề hến.

Quanh năm dầm mưa dãi nắng, hè thì mồ hôi đổ xuống từng con hến, đông thì tê tái ngấm vào tận xương, còng lưng cả ngày, oằn mình bê vác nên nhiều người mắc các bệnh về xương khớp, một người phụ nữ than thở.

Một khúc sông nơi làng nghề hến.

Một chị phụ nữ dừng chiếc cào, nhìn miên man ra khúc sông trong tiết trời mưa lạnh, giọng chùng xuống như nói với chính mình: “Nghề ni cực lắm, nhưng vì miếng cơm hằng ngày nên phải làm. Có khỏe chi thì lội riết một chặp năm, sáu vòng là cẳng giò muốn đớ rồi. Trời lạnh như ri dễ bị chuột rút lắm!”, giọng chị đượm buồn. Nhưng có lẽ còn có điều chi trong đó, mà đến nay giữa thời buổi kinh tế thị trường đầy gian nan này vẫn còn giữ được. Hỏi một người, chị cười: “Cũng một phần do không còn nghề nào khác, một phần muốn níu giữ cái nghề của cha ông. Cào được hến về, cả nhà lại xúm xít ngâm, lóng, đãi, luộc… rồi còn chia nhau đi bán. Chỉ cần nghe tiếng rao nơi đường làng, chạy ra mua 1.000 – 2.000 nghìn đồng hến là đã nấu được bữa canh, thêm ít nữa là có món cháo, món hến xào để cùng nhau nhâm nhi chén rượu nhạt cũng thú lắm chú ạ!”. Có lẽ vậy, dẫu đời hến còn nhiều khốn khó, nhưng vẫn còn chút nét đẹp nhân gian giữa thôn xóm yên bình, như cái tên của làng bao nhiêu năm qua vẫn yên vui là thế.


Những chảo hến ở chốn này luôn đỏ lửa.

Màn đêm buông xuống, đàn ông ngả lưng chờ con nước, phụ nữ và trẻ em gái Bến Hến chong đèn đãi cho hết những con hến chồng, cha của họ mang về trong ngày. Tiếng củi lửa vẫn tí tách, tiếng bước chân lạo xạo, tiếng cười đùa trêu chọc nhau vẫn kéo dài đến tận quá nửa đêm.

Tác giả: Hoàng Trọng – Hoài Thanh

Nguồn tin: Chuyên trang Phụ nữ và Đời sống

BÀI MỚI ĐĂNG

TOP