Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 


 


          Đơn vị không thể đủ sức đứng vững ở địa bàn này thêm một ngày nào nữa, vì tương quan lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch. Tần suất và cường độ bom đạn nằm ngoài sức tưởng tượng. Chiến sự ngày một ác liệt hơn. Đúng như tên gọi “Mùa hè đỏ lửa”. Vả lại, mùa mưa đã bắt đầu đến. Phải bảo toàn lực lượng còn lại. Trung đoàn lệnh rút quân lên Ba Thu, chuyển hướng mặt trận sang Phum Sâu, Công Pông Rồ, Long Khốt, Mộc Hoá tỉnh Kiến Tường. (Mộc Hoá ngày nay là một cửa khẩu quốc tế quan trọng giữa ta và Campuchia ). Như vậy, sau gần ba tuần giao chiến với các sư đoàn quân nguỵ như sư 5, sư 25 “Tia chớp nhiệt đới”, các tiểu đoàn bảo an, địa phương quân của chi khu Đức Hoà cùng đại đội thám sát 773 ác ôn và thiện chiến của tiểu khu Hậu Nghĩa với tổn thất rất nặng nề từ cả hai phía, chúng tôi được lệnh rời khỏi mặt trận để bảo toàn lực lượng còn lại…


Chúng tôi trở lại Ba Thu.


Ở Ba Thu, bất ngờ, tôi được điều đi học một lớp y tá ngắn hạn do quân y trung đoàn mở. Tôi rời đơn vị khi tiếng súng mặt trận đang rền vang. Mấy ngày sau khi tôi đi, trung đoàn lại tiếp tục chuyển hướng xuống Kiến Tường, sau khi đã bổ sung thêm quân.


Tôi còn nhớ, lúc bấy giờ anh Thứ (quê Hương Trạch, Hương Khê) quân y sỹ phụ trách lớp học. Nghe đâu sau giải phóng, anh vẫn sống, trở về hiện đang sinh sống ở quê. Lớp học ấy, tôi còn nhớ mấy anh em: anh Đào Toàn (Sơn Bằng, Hương Sơn, Hà Tĩnh) nay là hiệu trưởng trường THCS thị trấn Phố Châu (Hương Sơn); anh Trần Văn Toàn (Sơn Trung, Hương Sơn, Hà Tĩnh), sau giải phóng, học Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, nhưng sau đó không hiểu sao lại trở về địa phương. Vợ không may chết do tai nạn chập điện. Hiện Toàn đang sinh sống cùng 4 đứa con và hai bố mẹ già trên 80 tuổi ở quê, hoàn cảnh hết sức khó khăn. Anh Thư, (quê Kỳ Anh, Hà Tĩnh) sau hoà bình trở về, rồi xin vào cơ quan thương nghiệp, hiện đã nghỉ hưu. Anh  Kháng ở Thuận Lộc (thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh) cùng tham gia phụ trách lớp học. Hết chiến tranh, phục viên trở về công tác ở trạm y tế xã Thuận Lộc, nay đã nghỉ. Riêng anh Lê Văn Chung, quê ở Thanh Lộc,  Can Lộc,  sau này hy sinh do bị địch phục kích ở bưng Đức Huệ vào ngày 16 tháng 4 năm 1973. Tôi sẽ kể chi tiết về sự hy sinh của anh và 12 đồng chí khác trong trận phục kích ấy.


Thời gian gấp rút, chúng tôi phải tập trung học tập, thực hành để nắm vững chuyên môn cơ bản của một khoá y tá ngắn hạn. Tuy vậy, riêng tôi lại có nhiều kỷ niệm để đời. Tôi nói rất sõi tiếng Khơme là nhờ vào thời gian này. Tiếng Khơme tôi nói được cả thổ âm và thổ ngữ đến mức dân Campuchia tưởng tôi là người Miên thật. (Tôi vốn có khả năng bắt chước giọng nói. Sau này sống với dân Nam Bộ, nói giọng Nam Bộ, đặc biệt là ca “Sáu câu” (vọng cổ) không khác gì họ. Đã có nhiều cô gái Nam Bộ từng “cá” (thách) tôi: “Nếu anh Hai Sơn ca được “sáu câu” thì em nhận làm chồng liền hà!” Tôi quyết tâm tập ca và sau đó tôi ca vọng cổ khá mùi mẫn). Bấy giờ, có một cô gái người tỉnh Prâyveng tên là Xan Thon, rất quý mến tôi rồi đem lòng yêu tôi! (Tôi vốn mảnh mai, trông thư sinh và lại nói giỏi tiếng Khơme, có lẽ đó là điều quan trọng nhất để tôi lọt vào “tầm ngắm” của cô gái?!). Đó là một cô bé người Miên, gốc Việt. Bố cô là người Việt. Ở tuổi 18, Xan Thon có nước da trắng mịn và xinh đẹp. Hai lúm đồng tiền là điểm nhấn gợi cảm trên gương mặt trái xoan có phần bầu bĩnh của cô ấy. Đôi mắt ướt và sáng lay láy dưới làn mi dài, cong vút. Đôi “cửa sổ tâm hồn” ấy như hút hồn tôi. Tôi hết sức bối rối trước mối tình này. Thực lòng, tôi rất quý mến Xan Thon. Nhưng ngặt nỗi vì kỷ luật quân đội và đặc biệt là quan hệ quốc tế giữa ta và bạn lúc ấy, nên đành phải dằn lòng. Hơn nữa, cuộc chiến thường trực, nơi đồng đội tôi đang chiến đấu và đổ máu từng ngày, từng giờ thì làm sao tôi có thể yên lòng với tình yêu lãng mạn ấy được. Nhiều lần, tôi tìm cách từ chối và lẩn tránh. Nhưng càng lẩn tránh, Xan Thon càng thể hiện tình cảm mãnh liệt hơn…Tôi đành phải nói hết những suy nghĩ của mình với em. Cô bé hờn dỗi, khóc ròng mấy ngày đêm rồi cuối cùng doạ tôi đòi chết. Hoảng quá, tôi phải nói thật với gia đình và chỉ huy đơn vị nơi tôi đang học về thực tế ấy. Rằng, tôi không thể và không có lý do gì để gắn bó với Xan Thon được. Hoàn cảnh chiến tranh, ngôn ngữ bất đồng, quốc tịch và phong tục khác lạ… Tôi mong thời gian qua mau, để sớm trở lại đơn vị, hy vọng chạy trốn mối tình ấy. Ngày tôi đi, cô bé ốm liệt giường. Giờ đây, sau hơn 33 năm nghĩ lại, cảm thấy buồn cười và dại dột. Với tôi, mối tình ấy chỉ thoáng qua, nhưng vô tư và trong sáng như pha lê.


Hơn hai tháng khẩn trương, với một lớp học trên 20 người, chúng tôi đã dự thi tốt nghiệp để “ra trường”. Tôi cầm trong tay cái Giấy chứng nhận “Loại Giỏi”. Cả lớp tổ chức liên hoan chia tay để về các đơn vị trong Trung đoàn. Trung đoàn bộ cấp cho lớp học một con heo khoảng trên 30 kg để giết thịt. Chính hôm ấy, lần đầu tiên trong đời, tôi cầm dao chọc tiết. Buổi liên hoan tuy đơn sơ nhưng thắm tình quân dân và đồng đội. Hôm ấy, chúng tôi được phép uống rượu. Thứ rượu được nấu bằng loại nếp tím của Campuchia, do dân ở đấy mang tặng. Chỉ uống một lần nào ai có thể dễ quên? Chỉ hơn hai tháng trời cùng nhau học tập, rèn luyện trong điều kiện khó khăn gian khổ, vậy mà đã để lại trong mỗi chúng tôi biết bao kỷ niệm vui buồn. Đêm đã khuya nhưng mọi người chẳng nỡ rời nhau. Ai cũng muốn nán lại bên nhau thêm chút nữa vì chỉ ngày mai đây thôi, chúng tôi sẽ phải xa nhau để đi chiến đấu.


Sáng hôm sau, chúng tôi chia tay nhau để trở lại chiến trường, bổ sung về các đơn vị mới. Tôi vĩnh viễn xa cô gái Khơ me xinh đẹp, dịu dàng kia từ đấy. Không rõ sau đó, số phận đưa em đến đâu? Cũng có thể hiện giờ, em đang sống hạnh phúc bên chồng, con hay đã trở thành nạn nhân của chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xa Ri những năm 78 – 80? Hỡi ôi,”vật đổi, sao dời” ai mà biết được! Tôi chắp tay nguyện cầu cho em được vẹn toàn trong khả năng thứ nhất.


…Tôi không còn được trở lại đơn vị cũ C4-D9 (Đại đội 4, Tiểu đoàn 9) nữa. Trung đoàn điều tôi bổ sung cho tiểu đoàn bộ D8. Lúc này, đơn vị đang giao chiến ở Phum Sâu, Tà Lọt. Chiến sự rất ác liệt. Anh Phan Long, quê Trung Lộc, Can Lộc hy sinh ở trận này (trong một ngôi chùa Miên do bị máy bay oanh tạc). Cùng thời gian ấy, tôi gặp Nguyễn Đình ý, cùng quê Khánh Lộc, Can Lộc (xã Khánh Lộc chúng tôi nhập ngũ lần ấy có 7 người: Bùi Trọng Phách, Trần Hữu Chiến, Nguyễn Văn Bình, Vương Khả Hồng và Trần Sỹ Thọ, Nguyễn Đình ý và tôi. Nhưng Bình và Thọ được cử đi học y tá ở ngoài Bắc rồi sau đó bổ sung vào đơn vị khác. Hồng đi học lái xe vận tải quân sự. Tôi, Phách, Chiến và ý bổ sung vào trung đoàn 271 rồi đi chiến trường B2. Chiến được điều bổ sung về đại đội 20 (thông tin). Ý về đại đội 18 (12,7 li). Tôi về hoả lực (C4, D9). Phách về đại đội 17 (ĐKZ). Riêng Ý, sau mấy trận đánh ác liệt quá, nản lòng, bỏ ngũ trốn lên Campuchia đi lang thang cùng một số anh em bỏ ngũ khác từ các đơn vị trong trung đoàn. Tôi tình cờ gặp Ý trong một đêm hành quân trên đất bạn. Bằng tất cả tình cảm chân thành và trách nhiệm của một người đồng hương, đồng chí, tôi nói hết những suy nghĩ của mình với Ý: “Thôi, cậu hãy trở về đơn vị đi, đừng trốn chạy như vậy nữa. Hậu phương sẽ rất đau lòng và nhục nhã một khi ở chiến trường có người thân bỏ ngũ”. Tôi nhấn mạnh: “Đã vào đây rồi, hy sinh là điều tất yếu. Cậu nên suy nghĩ kỹ và trở về đơn vị, nếu có chết cũng chết cho đàng hoàng. Trốn chạy như vậy, nhục nhã lắm. Chính mình cũng cảm thấy hổ thẹn thay cho cậu. Hãy cố gắng trở về trở về đơn vị đi!” Ý cúi đầu, chẳng nói gì. Hai đứa chỉ gặp nhau được chừng 15 phút rồi vội vã chia tay. Không ngờ, đó cũng là lần cuối cùng tôi gặp Ý. Trước đó, chi bộ 18 đã khai trừ vắng mặt cậu ta ra khỏi Đảng. Không rõ do lời khuyên của tôi hay một lý do nào khác mà một thời gian sau, Ý trở lại đơn vị, rồi chiến đấu rất dũng cảm, lập công xuất sắc. Được đề bạt làm B trưởng (trung đội trưởng). Được tái kết nạp Đảng. Ngày 14 tháng 7 năm 1974, trong trận chiến đấu ở Bù Bông (Bình Phước) Nguyễn Đình Ý đã anh dũng hy sinh. Bây giờ, gần như năm nào, đến ngày Thương binh liệt sỹ (27/7) tôi cũng về thắp hương cho Ý ở nhà thờ liệt sỹ của xã hoặc tư gia anh trai là Nguyễn Đình Tình, nơi đang thờ tự cậu ta. Gần đây, một đồng đội cũ, khi thăm lại chiến trường xưa đã tìm thấy mộ Ý ở nghĩa trang Bình Phước và đã báo tin cho gia đình anh.


 


Tại đây, tôi cũng tình cờ gặp Bùi Trọng Phách (cùng quê Khánh Lộc). Phách bị thương nặng do mảnh đạn ĐKZ từ xe tăng của địch trong chiến dịch giải phóng Thiện Ngôn, Sa Mát (Tây Ninh) hồi tháng 3 năm 1972. Một mắt bị hỏng, đang điều trị ở trạm phẫu trung đoàn. Một thời gian sau, ổn định vết thương, anh được trở ra miền Bắc an dưỡng. Sau đó được phục viên. Nay là thương binh hạng 1/4, đang sinh sống ở quê. Tuy hoàn cảnh khó khăn nhưng 5 người con của Phách đều học hành đến nơi đến chốn, và đều đã có việc làm.


…Tôi ở D bộ một thời gian ngắn với anh Điểm (quê Hải Hưng), y sỹ tiểu đoàn. Anh vốn được đào tạo cơ bản từ miền Bắc. Tôi được anh ân cần chỉ bảo. Bởi anh là một người rất tận tuỵ với công việc và hết mực thương yêu tôi. Anh coi tôi như đứa em và chỉ vẽ cho tôi nhiều điều, nhất là ở lĩnh vực chuyên môn. Một lần, một gia đình người Miên rất giàu, ở thị trấn Sóc Nốc, có một bé gái khoảng 7 tuổi, không may bị căn bệnh gì không rõ, cơ thể cứ gầy teo đi và suy sụp. Họ nhờ chúng tôi khám. Anh Điểm cho biết, cháu bị một căn bệnh, dẫn đến suy dinh dưỡng nặng, cần truyền dịch. Anh giao cho tôi “bắt ven” để truyền nhưng thật khó có thể tìm ra tĩnh mạch để đưa thuốc vào. Anh hướng dẫn tôi lấy tĩnh mạch ở cổ chân cháu. Dưới sự chỉ vẽ và giám sát của anh, tôi dùng dao mổ, rạch thịt ở phía trên mắt cá chân sau khi đã rửa sạch bằng nước sôi để nguội và vô trùng bằng cồn 90 độ. Tôi dùng nĩa gắp tĩnh mạch ra bên ngoài sau đó mới luồn kim tiêm vào và cố định lại để truyền. Thành công. Anh khen tôi. Sau nhiều lần truyền như vậy, cháu bé đã khá hơn, sức khoẻ có chiều hướng tiến triển tốt. Nhưng, chúng tôi không có nhiều thời gian ở lại đây. Ngày ra đi, anh Điểm và tôi hướng dẫn cụ thể về cách điều trị cho cháu bé. Họ cảm ơn lắm. Buổi chia tay, gia đình tặng anh em tôi nhiều quà và tiền. Riêng tôi, được bố của cháu bé gọi riêng ra, bí mật dúi vào tay sợi dây chuyền vàng lớn, loại 24 ca ra rồi nói: “Khờ nhum o cun Lục thum đốc tờ chờ rờn, chờ rờn” (Tôi cảm ơn Ông lớn bác sỹ nhiều lắm, nhiều lắm). Chúng tôi chỉ nhận quà thôi: “O cun boòng chờ rờn” (cảm ơn anh nhiều). Tôi nói với anh Điểm việc này rồi công khai trả lại sợi dây chuyền ấy vì hai lẽ: Thứ nhất, sợ ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế trong sáng và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong con mắt của người dân Campuchia. Thứ hai (có vẻ siêu hình) nghe đâu có vàng trong người sẽ không may mắn. Tôi phải thuyết phục mãi anh ta mới chịu nhận lại.


Tôi tham gia trận đánh ở Công Pông Rồ (gần Mộc Hoá, Kiến Tường). Hôm ấy, sư đoàn 7 quân nguỵ Sài Gòn cùng các tiểu đoàn bảo an phối hợp với quân nguỵ Lon Nol, mở đợt phản kích chiếm lại khu vực Mỏ Vẹt. Trên 100 xe tăng và xe bọc thép M113 rầm rộ tiến sang đất Campuchia. Trung đoàn đã lên phương án tác chiến, dự kiến mọi tình huống khả dĩ xảy ra. Nhưng chúng đã không đi đúng ý đồ chiến thuật của ta mà xộc ngay vào trung đoàn bộ. Một tình huống nằm ngoài dự kiến. Chiến xa địch lổm ngổm như cua giữa cánh đồng trống trải hàng mấy dặm vuông. Phía sau là bộ binh theo sát. Trên đầu, trực thăng quần đảo. Trung đoàn lệnh cho các tiểu đoàn phải bằng mọi giá đẩy lùi xe tăng địch ra khỏi vị trí. Địa hình trống trải và rộng nên hoả lực ta phát huy được xung lực tối đa. Đồng thời, có sự phối hợp của đơn vị bạn sử dụng B72 (một loại vũ khí chống tăng mới, bắn tầm xa) nên xe tăng, xe bọc thép của địch bị cháy mười mấy chiếc. Đây là địa phận giáp giới Campuchia nên việc tiếp vận thuận lợi hơn. Do vậy, ta có đủ tiềm năng hoả lực để đối phó với địch. Bất ngờ, bị thiêu cháy nhiều xe tăng, địch vội rút lui về hướng Kiến Tường, gọi phi pháo đánh vào các vùng nghi ngờ có lực lượng ta. Trước đó đã có một số trận giao chiến giữa ta và địch. Lần này chúng tổ chức một cuộc hành quân lớn có sự phối hợp với nguỵ Lon Nol hòng tiêu diệt lực lượng ta. Cuộc hành quân thất bại, kế hoạch của chúng bị phá sản. Đó là những ngày cuối tháng 7 năm 1972…


Sau chiến dịch Công Pông Rồ, trung đoàn vẫn ở lại đất Miên để củng cố lực lượng vì bây giờ đã là mùa mưa. Tuy vậy, một số đại đội trong các tiểu đoàn được lệnh vượt bưng Đức Huệ trở lại Đức Hoà để đứng chân, bám địch. Ban ngày đánh nhỏ, lẻ, tập kích đồn bốt hoặc đánh tàu trên sông Vàm Cỏ Đông. Ban đêm, vào ấp chiến lược để tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng. Chuẩn bị lương thực, thực phẩm cất giấu ở cứ ngoài bưng để chờ ngày đại quân xuống chiến dịch.


Tôi được điều về làm y tá ở C2-D8 (Đại đội 2 – Tiểu đoàn 8) từ tiểu đoàn bộ đúng vào thời điểm ấy.


Lúc này, anh Cầu (người tôi đã kể về việc bị kỷ luật do sự cố ĐKZ ở Quảng Bình hồi tháng 10/1971) được điều về làm chính trị viên đại đội. Anh Nguyễn Tiến Đắc (Gia Lương, Hà Bắc) làm đại đội trưởng. Anh Đắc và anh Cầu là những người người giới thiệu kết nạp Đảng cho tôi vào tháng 7 – 1973 sau này. Anh Đắc nay là trung tá, đã nghỉ hưu tại  thành phố Hồ Chí Minh.


Bổ sung về D8 với tôi đợt ấy có Vũ Duy Tòng (Diễn Hoàng, Diễn Châu) Đào Xuân Nhuận (Đức Tùng, Đức Thọ), Nguyễn Viết Kỷ (Thượng Lộc, Can Lộc) Nguyễn Văn Tý (Tăng Thành, Yên Thành). Là đồng hương Nghệ Tĩnh nên chúng tôi nhanh chóng kết thân với nhau. Đặc biệt, từ đó đến khi trung đoàn được lệnh chuyển hướng ra mặt trận Bù Bông, Quảng Đức (Bình Phước) chúng tôi, tất cả mấy anh em đều được điều về tiểu đoàn 7, để bàn giao cho Tỉnh đội Long An vào tháng (8-1973). Có rất nhiều những kỷ niệm chiến đấu và sinh hoạt giữa chúng tôi đã trở thành máu thịt. Đặc biệt là tôi, Tòng, Kỷ và Nhuận.


Vũ Duy Tòng, nhập ngũ tháng 8-1970. Trước khi về D8, Tòng thuộc đại đội 23 vận tải của trung đoàn. Chúng tôi thân nhau ngay vì Tòng là người có tâm hồn và năng khiếu thơ văn. Đặc biệt là thơ. Tính tình nhẹ nhàng và lãng mạn. (Những ngày đầu, sau giải phóng, chúng tôi di chuyển chiến thuật nhiều nơi. Có rất nhiều cô gái ở thị xã Tân An, Bến Lức, Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc… đem lòng yêu Tòng nhưng Tòng đều từ chối). Chúng tôi kể cho nhau nghe những kỷ niệm của tuổi học trò, tình yêu, uớc mơ hoài bão… Hai đứa chúng tôi như một cặp tình nhân. Đi đâu cũng có nhau. Lúc chiến đấu vẫn thường chung một công sự. Tòng được giao giữ hoả lực B40. Chúng tôi tham gia nhiều trận đánh ác liệt từ đấy cho đến hết Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hiện nay Tòng là giáo viên dạy Văn trường THPT Diễn Châu II, Nghệ An. Anh là một giáo viên giỏi. Tôi sẽ kể lại những kỷ niệm máu thịt giữa hai chúng tôi sau này…


Nguyễn Viết Kỷ, quê Thượng Lộc, Can Lộc, nhập ngũ một ngày với tôi, tính tình trầm lặng, ít nói, da bánh mật, bẽn lẽn như con gái. Xạ thủ cối 61 li. Kỷ vào Đảng trước tôi.


Đào Xuân Nhuận, quê Đức Tùng, Đức Thọ, sôi nổi, vui vẻ, có khiếu nói chuyện khôi hài và giọng điệu “Ruồi Trâu”, phớt đời, lắm lúc hơi lỗ mãng trong phát ngôn. Nhuận là xạ thủ trung liên. Tôi và Nhuận cùng tham gia nhiều trận đánh đã trở thành ký ức. Tôi nhắc lại một trong nhiều kỷ niệm giữa hai chúng tôi. Lần ấy sau khi xuống Mỹ Thạnh Đông, trung đội tôi được lệnh phục kích chặn đánh tàu địch trên sông Vàm Cỏ Đông từ bờ tây. Nằm phục chờ đã gần một tuần rồi mà tàu địch vẫn chưa đến…


Có tiếng làm y tá nhưng thực chất tôi vẫn là một tay súng chiến đấu. Luôn thường trực một khẩu AK cùng bốn băng đạn. Tôi và Nhuận được phân công chốt ở một công sự sát mép sông. Chờ mãi mà tàu địch vẫn chưa xuất hiện, đâm ra chủ quan…


Hôm ấy, ngày 20/8/1972. Khoảng 9 giờ sáng, khi chúng tôi đang ngồi kháo chuyện rì rầm ở phía sau, cách công sự chiến đấu khoảng 40 mét. Bỗng anh Báo (Cẩm Xuyên), trung đội trưởng bò đến, nói trong hơi thở gấp: “Tàu… Tàu…”. Chúng tôi liếc nhanh ra hướng bờ sông, nơi có công sự được che khuất bởi nhiều cây trâm bầu. Tuy vậy, vẫn thấy rõ mạn hông phải của chiếc tàu “mặt dựng” (há mồm) màu xám, án ngữ ngay sát công sự (cách chừng 10 mét). Tôi và Nhuận bò nhanh theo mép nước của một con rạch, rồi trườn được vào hầm. Nước trong hầm dâng lên tới vai. Vừa lúc ấy, B40, B41 của các công sự bên cạnh đồng loạt nổ. Các loại súng AK và trung liên RPĐ kéo từng loạt dài. Tàu địch vội tăng ga bỏ chạy và bắn như đổ đạn về phía chúng tôi. Chúng tôi bắn đuổi theo, nhưng chúng đã kịp chạy thoát. Hai trong ba chiếc bị thương nhưng không chìm. Nhuận không kịp bắn được phát nào vì trung liên lúc ấy vướng quá, không đưa được lên khỏi miệng công sự để bắn. Tôi kéo mấy loạt AK đuổi theo tàu địch. Mấy chiếc bo bo (loại ca nô nhỏ đi kèm bảo vệ tàu “mặt dựng”) tăng tốc rồi chĩa 12,7 li về phía chúng tôi bắn không tiếc đạn để chi viện cho tàu lớn chạy thoát. Sau lần ấy, họp rút kinh nghiệm trận đánh có nói đến việc Nhuận không nổ súng để “chia lửa” cùng đồng đội (bị quy kết về tư tưởng sợ địch). Tôi không thể bảo vệ được Nhuận vì đầu súng trung liên của cậu ta vẫn còn bịt vải. Trong cuộc họp, trước sau tôi chỉ nêu vấn đề là do chủ quan nên hoàn toàn bị động. Lúc tàu đến sát ngay công sự, súng mắc kẹt dưới hầm không đưa lên được. Đưa lên sẽ bị lộ.


Hôm ấy, lợi dụng nước ròng, địch tắt máy, thả tàu trôi theo dòng. Chúng tôi chủ quan nên bị động. Nếu không mất cảnh giác, ba chiếc tàu đó đã bị nhận chìm trên sông Vàm Cỏ Đông rồi!


Nhuận bị kỷ luật lưu Đảng. Sau đó cậu ta cũng bỏ mặc luôn, không sinh hoạt nữa. Tuy vậy, tôi và Nhuận vẫn gắn bó với nhau và đi suốt các mùa chiến dịch. Chúng tôi còn có nhiều trận đánh khác, với nhiều chi tiết thật li kỳ. Đó là vào giai đoạn sau Hiệp định Paris từ tháng 1/1973 đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng 30/4/1975. Nay Nhuận vừa là thương binh, vừa là bệnh binh, đang sinh sống ở Tùng ảnh, Đức Thọ. Vợ là văn thư tại trường Trung học phổ thông Minh Khai. Hai con, một đã ra trường, dạy ở trường Trung học phổ thông Nguyễn Du (Nghi Xuân), một đang học đại học.


Sau trận đánh tàu không thành ấy, trung đội rút xuống bưng Tân Phú. Nơi đây, lại tiếp tục diễn ra các trận đánh nhỏ lẻ, tập kích, pháo kích quấy rối địch vào ấp chiến lược để dân vận và binh vận. Phải nói rằng sau chiến dịch mùa hè năm ấy, chúng tôi mới hiểu được tấm lòng kiên trinh vì cách mạng của người dân Long An. Họ chấp nhận sự hy sinh “Một tấc không đi, một li không rời”. Tất cả cho cách mạng. Đã có nhiều đồng đội tôi, trong những năm gần đây có dịp trở lại thăm mảnh đất này – nơi mà chúng tôi cùng họ đã từng đổ biết bao máu xương mới giành lại được vậy mà cuộc sống của họ vẫn còn nhiều vất vả, thiếu thốn.


 


Ngày 5/8/1972.


Tiểu đoàn 8 bất ngờ chỉ thị đại đội 2 chúng tôi xuống “đứng chân” tại địa bàn xã Hoà Khánh. Nơi đây, cách tiểu khu (thị xã) Hậu Nghiã chừng 4-5 kilômét đường thẳng về phía Tây nam và sát quốc lộ 4. Bên kia là Tân Trụ, một huyện miền hạ của Long An. Xuôi một quãng nữa là thị xã Tân An rồi đến Mỹ Tho. Đây là vùng chiến lược cực kỳ quan trọng của Mỹ nguỵ (thuộc vùng 4 chiến thuật), nên bằng mọị giá chúng phải cố giữ bằng được. Vì chỉ cần một ngày thôi, lộ (đường) 4 bị cắt đứt thì đồng nghĩa với việc Sài Gòn bị cô lập, không có nguồn hậu cần cung cấp. Một quyết định chiến thuật táo bạo và có phần liều lĩnh của trung đoàn. Hoà Khánh vốn là vùng đất mà Mỹ nguỵ tổ chức “bình định” rất gắt gao. Đây là nơi sát nách tiểu khu, nên việc bố phòng hết sức cẩn mật. Các “ấp chiến lược” đều có đồn bốt khá dày đặc với lực lượng bảo an, dân vệ, địa phương quân đồn trú. Đặc biệt là đại đội thám sát 773, “con cưng” của tỉnh trưởng tỉnh Hậu Nghĩa.


loading...

Chúng tôi vượt bưng Tân Phú xuống Hoà Khánh rồi bí mật tiến vào chiếm lĩnh trận địa ở mấy khu vườn hoang. Đêm hạ tuần nên trăng muộn. Nghe động chúng tôi vào, dân táo tác gồng gánh, xe trâu, xe bò lộc cộc chở đồ đạc di tản về phía thị xã. Vì vậy mà chúng tôi bị lộ khá sớm. Tôi còn nhớ, đêm ấy, cậu Đũng, liên lạc đại đội (quê Nam Định) nguời to đậm, hay cười, má lúm đồng tiền cùng với tôi đào chung một công sự chiến đấu. Cách công sự chỉ huy đại đội khoảng 30 mét, có một bờ đất nhỏ dẫn ra phía ruộng lúa đang chín. Ban đầu tôi và Đũng đào công sự ở giữa bờ đất ấy theo chỉ dẫncủa trung đội. Đào gần xong thì trăng lên. Tôi để Đũng tiếp tục đào, còn mình thì lợi dụng ánh trăng, đi quan sát kỹ một vòng ở các công sự bạn. Tòng và Nhuận (B40 và trung liên) ở bên trái. Kỷ và Tý (cối 61 li) ở phía sau tôi chừng 50 mét. Thấy chỗ công sự đang đào xa mép ruộng khoảng 15 mét, tôi phân tích cho Đũng thấy được sự bất lợi, nếu đặt công sự ở đó. Vì sau khi nổ súng, địch có thể bò vào, bám mép bờ ruộng để khống chế chúng tôi rồi dùng hoả lực tiêu diệt. Mặc dù đào đã gần xong nhưng thấy tôi phân tích có lý, Đũng đồng ý ngay và chuyển ra gần mép ruộng, đào lại. Đến hơn 5 giờ sáng thì cũng xong, nhưng không thật yên tâm vì chỗ này rất hiếm các vật liệu để lát mặt công sự. Chỉ chặt được một số cây nhỏ mà thôi. Chúng tôi nguỵ trang lại thật kỹ rồi tranh thủ ăn cơm sớm và tạt qua các hầm khác cho biết vị trí của nhau để khi tác chiến có thể chi viện hoặc băng bó, cấp cứu khi bị thương.


7 giờ 30 sáng. Sự chờ đợi làm cho thần kinh chúng tôi cực kỳ căng thẳng. Cảm giác như một mũi tên đang nằm trên cánh cung đã giương căng chỉ chờ buông tay là lao vút đi như đầu đạn rời nòng. Trên trời đã có tiếng L19 vè vè, tiếp theo là tiếng phành phạch của trực thăng “cán gáo” từ hướng Hậu Nghĩa. Kinh nghiệm cho hay: Đây là dấu hiệu của một trận sống mái, không cân sức giữa ta và địch. Chúng tôi bảo nhau: trận này sẽ gay go ác liệt đây. Bởi lực lượng chúng tôi quá mỏng, trong khi kẻ địch đông gấp chúng tôi hàng chục lần cộng với hoả lực siêu mạnh: 4-5 trận địa pháo với hàng chục khẩu trọng pháo từ 105 đến 155 li cùng với cối 106,7 ly, bắn như đổ đạn khi chiến sự nổ ra. Máy bay và trực thăng vũ trang sẽ không tiếc bom và rốckét để xả lên đầu chúng tôi dưới sự chỉ điểm của L19.


Tám giờ. Trinh sát cho biết: có 8 chiếc GMC trong chuyến đầu tiên, chở đầy lính từ tiểu khu Hậu Nghĩa theo lộ 8 hướng về phía chúng tôi. Bọn địch sau khi nhảy xuống xe liền dùng máy thông tin PRC 25 gọi pháo bắn cấp tập vào trận địa. Trong những loạt đầu, đạn rơi ra phía sau, cách chúng tôi chừng vài, ba trăm mét. Máy bay trực thăng chỉnh pháo rút tầm lại. Lần này, pháo đã giập ngay lên đầu chúng tôi. Tiếng rít và tiếng nổ chói tai. Đại đội đã có mấy người bị thương. Sau chừng 30 phút dội pháo, bộ binh địch bắt đầu mò vào. Chúng bắn như tưới đạn vào đội hình chúng tôi. Chờ cho địch vào gần, súng ở các công sự đồng loạt nổ. Nhiều tên chết ngay tại chỗ. Số còn lại chạy dạt ra. Tiếng tên chỉ huy hò hét thúc bọn lính xông vào nghe rất rõ “Đ. mẹ! Nhào dzô đi tụi bây!”. Nhưng đám lính không đứa nào dám vào mà lùi ra xa rồi gọi pháo từ Hậu Nghĩa và Hiệp Hoà nã vào trận địa. Công sự chúng tôi rung chuyển dưới sức nổ của đại bác 155 li. Nhiều công sự bị sập. Anh Trần Văn Lệ (Hương Sơn, Hà Tĩnh) mới được đề bạt làm trung đội phó ở trận đánh trước, bị thương nặng. Anh Cầu (chính trị viên đại đội) lệnh cho tôi băng bó. Mặc cho pháo nổ chát chúa xung quanh và trên đầu, trực thăng vẫn quần thảo, bắn 20 li và rốckét xối xả, nhưng tôi lợi dụng địa hình, tìm mọi cách tiếp cận để băng cho Lệ. Lệ nằm ngửa, máu trào ra ướt đẫm cả ngực áo rồi chảy xuống lưng. Tôi nằm dọc theo thân cậu ta, vòng tay qua ngực để băng. Nhưng vì vết thương quá nặng, Lệ đã hy sinh trên tay tôi…


Càng về trưa, hoả lực địch càng dồn dập, bộ binh địch hò hét xung phong nhưng chúng chỉ “đánh giặc mồm” mà thôi, không dám liều lĩnh xông vào. Như đã nói ở trên, lực lượng chúng tôi quá mỏng, lại thương vong nhiều quá, không đủ tay súng ở những nơi trọng yếu nữa nên kẻ địch có thể chọc thủng phòng tuyến bất cứ lúc nào nếu chúng có được tinh thần dũng cảm của chúng tôi.


Tôi để Lệ nằm đó rồi bò về công sự với Đũng. Đũng ôm lấy tôi, xúc động: “Tao chắc trăm phần trăm là mày chết rồi! Làm sao lại có thể còn về được đến đây?!”. Tôi cũng không hiểu vì sao mình vẫn còn sống sót được dưới làn mưa đạn ấy?!


Lúc này khoảng 10 giờ 30. Có tiếng máy bay. Tôi nghĩ nhanh: “Thế là ăn bom rồi!” Tôi thò đầu ra khỏi hầm nhìn lên. Bốn chiếc A37 rầm rộ lao tới đảo mấy vòng rồi bổ nhào theo trái khói chỉ điểm của chiếc trinh sát L19 vẫn dõi theo chúng tôi từ sáng sớm. Tiếng bom rít, xé không khí như xé lụa. Tiếp theo là những quầng lửa màu da cam và cột khói hình nấm trùm lên cùng tiếng nổ lộng óc. Đất rung chuyển dưới chân và trên đầu chúng tôi. Bùn, đất, cây cối bị hất tung lên rồi rơi xuống che lấp cả miệng hầm. Tôi có cảm giác như hầm mình đang sập. Loạt thứ hai, rồi thứ ba. Bốn chiếc thi nhau bổ nhào dội hết cơ số bom mang theo. Sau đó, chúng mở rộng cua, lượn thêm mấy vòng nữa rồi chuồn thẳng. Khu vườn bây giờ chỉ còn lại là những hố bom. Khói lửa trùm lên mù mịt. Nhiều đồng chí nữa lại hy sinh. Tôi nhớ, cậu Trọng, quê Yên Thành, Nghệ An làm quản lý đại đội cũng hy sinh vì mấy loạt bom ấy. Chắc bọn địch nghĩ rằng với mức độ bom đạn khủng khiếp như vậy, chúng tôi sẽ chẳng một ai có thể sống sót. Chúng lại mở đợt tấn công thứ 3. Đội hình chúng tôi đã mỏng nay càng mỏng thêm. Nhiều công sự bị bom vùi, anh em tự mình bới đất chui ra rồi tiếp tục chiến đấu. Băng quấn đầy mình vẫn kiên cường đánh trả. Cả một vùng lúa đang chín, giờ đây đã bị san phẳng bởi chi chít hố pháo, hố bom. Kẻ địch quyết tâm tiêu diệt và bắt sống chúng tôi. Vẫn thứ “giáo án” chiến thuật cũ rích là xả súng không tiếc đạn rồi mò vào. Bùn đất, cây cối ngổn ngang của trận bom lúc nãy là sự nguỵ trang che mắt và hết sức bất ngờ mà bọn này không tính đến. Chúng vào sát công sự rồi mà vẫn không phát hiện ra chúng tôi. Khi chợt nhìn thấy họng súng chĩa vào ngực thì há hốc mồm ra, rồi đổ vật xuống trong cái chết kinh hoàng bởi loạt AK găm thẳng, xé nát lồng ngực chúng. Bị bất ngờ do chủ quan, chúng tháo chạy thục mạng trở ra sau khi đã để lại nhiều xác chết và những tên bị thương. Pháo địch lại cấp tập, trận địa cối 106,7 li của địch từ Hậu Nghĩa giờ mới dõng dạc lên tiếng. Những trái cối khổng lồ lao xuống trận địa chúng tôi như những đợt bom chùm. Tiếng rít đặc thù của nó không có ngôn ngữ để diễn tả. Thật kinh khủng. Ai đã một lần trong đời ngồi chịu trận vì loại “bom mặt đất” ấy, sẽ không bao giờ quên được tiếng rít, tiếng nổ xé tai và sức sát thương kinh hoàng của nó.


Địch cay cú vì một lực lượng quân lính và hoả lực hùng hậu như vậy mà không thể thắng nổi một lực lượng và vũ khí nhỏ hơn chúng nhiều lần. Chúng tập trung trong nỗ lực lần cuối, hòng tiêu diệt chúng tôi. Tất cả các loại pháo, cối, đạn M72, M79, đạn bắn thẳng, rốckét từ trực thăng…lại thi nhau đổ vào trận địa. Có thể nói chưa có trận đánh nào từ trước đến đó mà một khối lượng súng đạn, bom pháo, lại được huy động lớn đến như vậy! Và cũng kỳ lạ thay! Chúng tôi vẫn trụ bám kiên cường đến như vậy!


14 giờ 30 đột nhiên tiếng súng im bặt.


Quả nhiên, lợi dụng khi trọng pháo liên tiếp dội vào, bộ binh địch rút lui ra xa. Chúng tôi, những người còn lại, thở phào. Thế là mình còn sống. Mặt mũi ai nấy sạm đen vì khói đạn và bùn đất. Chỉ riêng đại đội tôi hy sinh 11 người, rất nhiều đồng chí khác bị thương. Có thể nói, cơ bản, chúng tôi đã thắng. Thắng vì đã đúng với ý đồ chiến thuật của cấp trên. Một lực lượng nhỏ xọc vào sát nách địch để kéo lực lượng của chúng, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn rút được an toàn vì địch đang có kế hoạch chuẩn bị một lực lượng lớn để bao vây, đánh úp trung đoàn tôi. Nhưng cái giá phải trả không rẻ một chút nào. Có thể hiểu rằng chúng tôi là lực lượng “cảm tử” của trung đoàn. Theo yêu cầu chỉ đạo chiến thuật, chỉ cần chúng tôi đứng vững được một ngày coi như đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Sau trận ấy, chúng tôi được cấp trên đề nghị Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải Phóng.


Đêm ấy, sau khi giải quyết xong công tác thương binh, tử sỹ, tôi quay trở lại công sự đào dở với Đũng hồi đêm qua. Tôi bàng hoàng vì trước mắt mình cái công sự đào dở ấy được thay bằng một hố pháo 155 li lớn xoá sạch mọi dấu vết. Nếu không thay đổi vị trí thì hôm đó, xương thịt của tôi và Đũng đã tan vào bùn đất Hoà Khánh rồi.


 Chúng tôi rời vùng tử địa Hoà Khánh để trở về bưng An Thuỷ. Tôi còn nhớ, Tòng và Kỷ bị lạc đơn vị. Khoảng 8 giờ tối, dò vào ấp chiến lược, họ tóm được một con vịt Xiêm (ngan) của dân đã bỏ chạy đêm qua. Sau khi làm thịt, luộc ăn xong, lấy góc phương vị rồi cắt đường về bưng An Thuận giữa đồn bốt giăng giăng của địch. Rất may là không bị phục kích hoặc vướng mìn clâymo do chúng gài lại. Bây giờ mỗi khi có dịp gặp nhau, ôn lại kỷ niệm chiến trường, nhớ lại những tình huống ấy, ai nấy đều nổi da gà.


Trở lại bưng An Thuỷ, rồi di chuyển xuống bưng Tân Phú. Nhiệm vụ lúc này của chúng tôi là ban ngày phục kích tàu địch, ban đêm, tập kích bằng cối 82 vào bốt hoặc vào ấp chiến lược để móc nối cơ sở, lấy gạo, thực phẩm, thuốc men hoặc làm công tác dân, binh vận…


Ở An Thuận, có nhiều cơ sở kiên trung, một lòng theo Đảng, theo cách mạng như gia đình chị Sáu Tiệm, gia đình út Ư, út Mắc, Lệ Thuỷ,v.v… Riêng tôi, thực sự có cảm tình với Lệ Thuỷ (nếu không nói là yêu). Đó là một cô gái đôn hậu, mà xinh đẹp, hết lòng vì mọi người (và hình như cô ta cũng yêu mến riêng tôi). Còn nhớ, ngày chúng tôi tác chiến chống càn ở đấy, ban ngày cô phải theo gia đình di tản. Khoảng 5 giờ chiều, khi bọn lính đã rút hết, mặc dù pháo vẫn còn bắn đến, vậy mà cô vẫn liều lĩnh đội pháo về với chúng tôi. Trên tay, lần nào cũng một làn đủ bánh ngọt, trái cây, xà bông, kem đánh răng, khăn mặt… Khi pháo bắn, thì cùng chui xuống công sự với chúng tôi. Hầm chật nên không tránh khỏi sự đụng chạm. Nhiều khi tôi thấy ngượng vì chúng tôi đánh nhau cả ngày, mồ hôi, bùn đất, khói đạn quyện lại thành một thứ mùi rất khó chịu. Trong khi, từ thân thể con gái tuổi 18 phổng phao, một mùi thơm dìu dịu quyến rũ toả ra làm ngây ngất chúng tôi. Tôi đành phải nói thật ý nghĩ của mình. Thuỷ hờn dỗi: “Sao anh nói vzậy. Sự hy sinh xương máu của mấy anh là đáng kể mà còn không tiếc thì sự giúp đỡ và chịu đựng chút xíu của em thì ăn nhằm gì! Anh nói nữa, làm em buồn đó nghen! Lần sau không được nói vậy nữa nghe hôn? “. Rồi gần như suốt cả đêm, cô lo giặt giũ, sửa soạn, gần sáng lo nấu cơm cho chúng tôi. Xong, lại vội vàng di tản, tránh càn…


… Xin được “bật mí”: Không phải ngẫu nhiên sau này, khi vợ chồng tôi có con gái đầu lòng, tôi đặt tên cháu là Lệ Thuỷ! Nguyên nhân sâu xa của cái tên Lệ Thuỷ – con tôi – là vậy đó. Hình ảnh Lệ Thuỷ của ấp An Thuận năm nào vẫn vẹn nguyên và để lại trong tôi cả khung trời kỷ niệm. Lệ Thuỷ ơi! Anh xin em, cho phép anh được đặt tên con gái mình bằng chính cái tên mà anh yêu, anh quý năm nào: Lệ Thuỷ… Chắc em sẽ bằng lòng và vui phải không? Anh vẫn tin như vậy…


… Giờ đây, sau 33 năm, kể từ ngày ấy, chiến tranh đang dần đi vào cổ tích. Hẳn giờ này, em đang sống trong một gia đình hạnh phúc? Và anh nghĩ, có thể em đã lên thiên chức làm nội, làm ngoại rồi. Nhưng, trong miền ký ức của riêng anh cũng như các anh lính miền Bắc năm nào vào Nam đánh giặc để giải phóng quê em, thì em vẫn là một Lệ Thuỷ hồn hậu, thuỷ chung, trong trắng mà mãnh liệt của mảnh đất “Long An trung dũng, kiên cường, toàn dân đánh giặc”. Thuỷ ơi! Trong niềm vui của cuộc sống hoà bình hôm nay, có lúc nào em chợt nghĩ về những tháng ngày gian khổ, ác liệt của quá khứ chiến tranh, nơi chúng mình đã có những kỷ niệm của một thời máu lửa?…


…Ở An Thuận một thời gian, ba chúng tôi, trong đó có Kỷ và anh Cường, chính trị viên phó đại đội (quê Diễn Châu, sau này trong chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari năm 1973, anh Cường đã hy sinh. Hôm đó, Kỷ, Tý và Cường chung một công sự. Trái pháo nổ gần. Một mảnh pháo găm vào ngực anh) cùng với ba đồng chí du kích địa phương do ông Năm Châu, một cán bộ và là một đảng viên kiên trung, nhận lệnh vào một ấp chiến lược ở cuối Lộc Giang, nằm sâu trong lòng địch có nhiệm vụ tiêu diệt tên xã trưởng ác ôn khét tiếng vốn có nhiều nợ máu với nhân dân và cách mạng. Đêm ấy, trời tối như bưng, nhưng nhờ ánh sáng điện của tiểu khu Hậu Nghĩa và của cả Sài Gòn, chúng tôi men theo các bìa ấp và những khoảnh ruộng nằm giữa các bốt bảo an, dân vệ, luồn sâu vào hậu địch. Từ chỗ chúng tôi xuất phát đến khi vào được tới ấp mất gần 8 tiếng đồng hồ. Chúng tôi len lỏi giữa đồn bốt giăng giăng, luồn sâu vào ấp. Gần hai giờ sáng, mới tới nơi quy định vì phải vừa đi vừa thăm dò, bám địch (ở đây, chúng hay phục kích và gài mìn ban đêm). Đồng chí du kích có tên là Sáu Luật, nhanh nhẹn, người ấp này, thông thuộc địa hình nên dẫn chúng tôi đến nơi tập kết an toàn, tránh được sự phục kích và mìn của địch. Sáu và ông Năm bắt liên lạc với cơ sở cách mạng của ta ở đó, nói rõ nhiệm vụ và ý đồ tiêu diệt tên ác ôn đồng thời đề nghị bố trí chỗ trú ẩn an toàn cho chúng tôi. Cơ sở đưa chúng tôi đến một một nơi bí mật ở cuối ấp. Nơi đó, trước đây đã đào hầm bí mật nuôi giấu cán bộ. Sau năm 1968, cơ sở bị lộ, các cán bộ nằm vùng, một số bị địch bắt, một số hy sinh. Hiện vẫn còn một căn hầm bí mật (BEM) nhưng lâu ngày không sử dụng nên rất có thể có rắn rết, côn trùng. Nhưng vì trời gần sáng, chúng tôi đánh liều chui xuống. Không có rắn, rết nhưng ve thì nhiều. Loại này sau khi châm vào người thì để lại nọc ở đó. Chạm vào y như bị kim châm. Ngày hôm ấy, chúng tôi nằm dưới hầm ngủ, chỉ thay nhau để lại một đồng chí cảnh giới. Hầm chúng tôi nằm ngay dưới một đám cây mắc cỡ lâu năm, cao gần một mét (miền Bắc gọi là cây trinh nữ hay xấu hổ). Khi đi qua, cây rũ xuống nhưng chỉ cần vài chục phút sau nó trở lại nguyên dạng. Do vậy rất bất ngờ. Sát đó có một cái giếng hoang từ lâu không ai dùng. Trưa nắng, khát nước, tôi trườn dưới cây mắc cỡ để ra múc nước uống. Tôi buộc hăng-gô vào sợi dây dù rồi thả xuống, kéo nước lên. Hăng-gô chạm vào đá nghe loảng xoảng. Mỗi lần múc, chỉ đủ cho một người uống. Nước trong vắt và ngọt lịm. Sau này chúng tôi mới bàng hoàng vì biết sự thật về cái giếng ấy. Năm 1965, du kích bắt được mấy tên ác ôn, giết xong, vứt xác xuống, ném đá đè lên. Tôi chợt hiểu vì sao ở đồng bằng mà lòng giếng lại có nhiều đá như vậy ?! Móc họng thế nào cũng không ra được nữa vì đã mấy ngày sau khi tên ác ôn bị tiêu diệt, mới biết (cơ sở cách mạng ở đó biết rất rõ cái giếng ấy nhưng họ không ngờ chúng tôi lại dùng nước ở đấy. Hơn nữa, nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là làm sao sớm diệt được tên ác ôn nên không ai để ý). Đến bây giờ mỗi lần nghĩ đến, tôi vẫn cứ kinh kinh, lờm lợm.


Thằng ác ôn có tên là Đởm (Sáu Đởm). Được biết, hắn có hai vợ. Một cô vợ bé, ở đâu trên Hậu Nghĩa. Thỉnh thoảng hắn lên trên đó. Còn chủ yếu là ở lại địa bàn này. Nhưng thằng này tinh quái lắm. Ban đêm, hắn chuyển chỗ ngủ tới hai, ba lần. Vì hắn biết rõ tội ác của mình và bản án tử hình mà cách mạng sẽ dành cho hắn nhưng chưa có dịp thực hiện nên càng điên cuồng như con thú dữ bị thương.


Cơ sở cho biết, Đởm đến nơi làm việc không có một quy luật nào cả. Nơi làm việc của hắn là một nhà dân ở đầu ấp chiến lược. Nhà thường đi làm vắng. Có thể sáng đến rất sớm hoặc đang trưa, hắn đến. Có khi ba hoặc bốn giờ chiều cũng nên. Thậm chí làm việc xong, hắn ăn tại chỗ rồi nghỉ lại. Đêm, di chuyển đến nơi khác để ngủ. Gần chỗ hắn làm việc, có bốt bảo an với một trung đội lính canh gác, bảo vệ. Đó là chỗ dựa cho thằng này.


Không hiểu sao, đã ba ngày nay, hắn không đến. Chúng tôi nằm phục kích giữa ruộng lúa đang chín, cạnh con đường hắn thường đi. Trời nắng như thiêu, cháy sém cả da mặt mà không dám động cựa vì sợ dân phát hiện ra sẽ bị lộ. Chờ đến lúc nhìn không rõ mặt người mới dám từ từ ngồi lên rồi đợi cho tối hẳn mới trở về nơi trú ẩn. Không lẽ cơ sở đã để lộ rồi chăng? Chúng tôi hoang mang. Kiểm tra lại, thấy không có gì bất cẩn cả. Vẫn giữ được bí mật tuyệt đối.


Ngày thứ tư, chúng tôi thay đổi vị trí mai phục. Chuyển đến gần chỗ hắn làm việc, nhằm tạo yếu tố bất ngờ. Chúng tôi mật phục từ bốn giờ sáng. Tất nhiên, vẫn giữa ruộng lúa đang chín. Tám giờ, bỗng có tiếng xe gắn máy đi tới, mọi người bí mật quan sát. “Đúng hắn rồi!” – Sáu Luật nói. Mọi người nhìn nhau, gật đầu, thực hiện phương án một.


Đởm ngồi trên xe, bên hông là khẩu Côn12. Ngoài ra, một khẩu AR15 treo hờ trước ngực trong tư thế thuận tiện nhất để sẵn sàng nổ súng bất cứ lúc nào.


Xe chạy qua, lợi dụng ở phía sau lưng nó, tôi và Sáu trườn nhanh vào, tiếp cận vào góc khuất của ngôi nhà, trong khi tên ác ôn đang dựng xe và tháo khẩu súng trước ngực, chuẩn bị bước vào. Kỷ và anh Cường bí mật vòng nhanh ra cửa sau, chốt chặn. Vào nhà, hắn dựng súng vào mép bàn, đang lúi húi tháo xà cột ra khỏi vai. Chỉ chờ có thế, Sáu Luật nhảy đến gí AK vào mặt hắn quát: “Sáu Đởm! Mày là tên ác ôn có nhiều nợ máu đối với nhân dân và cách mạng. Hôm nay, thừa lệnh Chính phủ Cách mạng lâm thời, chúng tao thực thi bản án tử hình dành cho mày”. Thằng ác ôn trợn tròn mắt, há hốc mồm, chưa kịp phản ứng gì thì Sáu đã siết cò. Hai loạt đạn bắn găm vào đầu và ngực hắn, máu vọt vào mặt và áo quần chúng tôi. Tôi bồi ngay một loạt nữa, thằng giặc bật ngửa ra phía sau, đổ vắt trên thành ghế, ngực lỗ chỗ. Tôi rút vội trong túi áo mình tờ giấy ghi bản án tử hình đã được ký sẵn, dành cho tên ác ôn, đặt lên ngực hắn rồi nhặt vội khẩu AR15 trong khi Sáu Luật tháo khẩu Côn 12 và xách theo túi tài liệu. Cùng lúc, hai đồng đội phía cửa sau, đồng loạt nổ nhiều loạt AK hướng về phía bốt bảo an. Tất cả chỉ diễn ra trong khoảnh khắc. Chúng tôi chạy thành hai hướng, như ma đuổi, vòng vèo, luồn lách để nghi binh địch và tránh con mắt tò mò của dân. Cuối cùng, tất cả cũng về đến hầm bí mật, chui xuống. Ai nấy, thở muốn đứt hơi.


Không chỉ nợ máu với cách mạng và nhân dân, Đởm còn rất hách dịch với đám lính bảo an ở đây nên tụi này không ưa gì hắn. Đó là một lợi thế cho chúng tôi. Đến khoảng 11 giờ trưa, nghe có tiếng súng nổ gần. Tất cả chuẩn bị chiến đấu. Nhưng, bọn lính chỉ bắn chỉ thiên vu vơ cho có tiếng súng vì sợ cấp trên khiển trách, rồi rút về bốt. Chúng không dám liều lĩnh sục sạo, vì đứa nào cũng sợ chết.


Chúng tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Tiêu diệt được tên ác ôn khét tiếng mà lâu nay nó thực sự là một cái gai nhức nhối cho nhân dân và phong trào vùng này. Đặc biệt là cho những gia đình cách mạng. Ngoài ra, còn lấy được tài liệu quan trọng và thu vũ khí mà không hề tốn một giọt máu. Cái chết của Sáu Đởm thực sự có hiệu quả. Đó là sự răn đe, cảnh cáo mạnh đối với những thằng ác ôn khác.


Tối hôm đó, trước khi rút về cứ, chúng tôi được bà con khao thưởng thịt heo và tặng cho nhiều quà (nghe tin thằng Đởm chết, họ mổ heo ăn mừng nhưng bên ngoài không dám nói ra). Chúng tôi từ chối, bởi sau chiến thắng nếu chủ quan sẽ rất dễ phải trả giá. Ông Năm Châu thay mặt cách mạng và tổ công tác, cảm ơn bà con cô bác đã cưu mang, chở che để chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ.


Chúng tôi giã từ mọi người để lên đường ra cứ lúc 20 giờ 30 phút tối hôm đó.


Vẫn là Sáu Luật dẫn đường, nhưng lần này, cậu ta không trở lại đường cũ mà cắt một lối khác khá bất ngờ, sát nách bốt địch. Đúng như dự định của chúng tôi, bọn địch đã gài mìn và phục kích ở đoạn đường mà theo dự đoán của chúng là chúng tôi sẽ đi qua. Chúng cho rằng, chúng tôi sẽ về muộn vì đang mải say sưa với chiến thắng. Chúng hoàn toàn không ngờ!


Tổ công tác chúng tôi về tới cứ ở bưng An Thuỷ khi đằng đông đã có ánh bình minh.


Sau trận ấy, chúng tôi chia tay với ông Năm Châu, Sáu Luật và anh chị em du kích cùng với mảnh đất An Thuận đầy ắp kỷ niệm. Họ ở lại bám dân, tiếp tục làm nhiệm vụ. Còn chúng tôi rút lên Campuchia, củng cố lực lượng, chuẩn bị đánh trận Công Pông Tra Béc lịch sử. Không ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp họ.Từ bấy đến nay, không rõ ông Năm cùng các đồng chí du kích và giao liên An Thuận một thời gian khổ, hy sinh, sát cánh cùng chúng tôi chiến đấu và công tác hiện ra sao? 33 năm đã trôi qua, bão táp thời gian có thể làm đổi thay mọi điều!?…

Loading...

TIN LIÊN QUAN