Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tin liên quan:


>> Phần III


 


                                       Phần IV 


 


                                     VÀO TRẬN


 


        Tôi tham gia trận đánh đầu tiên vào ngày 3/5/1972.


        Hôm ấy, một đêm tối trời, chúng tôi được lệnh phối hợp với một đơn vị của đoàn đặc công 429 để giải phóng căn cứ Lộc Giang (Đức Hoà). Đây là căn cứ nằm án ngữ phía Tây bắc tiểu khu Hậu Nghĩa (Khiêm Cường). Địch tăng cường phòng thủ rất mạnh. Nếu để mất Lộc Giang thì có nghĩa là tiểu khu Hậu Nghĩa bị uy hiếp và có nguy cơ bị tiêu diệt. Hậu Nghĩa không còn thì cửa ngõ phía Tây nam Sài Gòn bị bỏ ngỏ. Do vậy, dù giá nào, chúng cũng quyết “tử thủ”, không để mất Lộc Giang. Quyết tâm của chúng tôi là phải nhổ cho được căn cứ này, để Công trường 5 (Sư đoàn 5) dốc toàn lực tấn công giải phóng Hậu Nghĩa. 19 giờ, chúng tôi được lệnh tiềm nhập vào vị trí chiếm lĩnh trận địa. Phải mất hơn một giờ sau, mới đến được nơi quy định. Chỗ này cách mục tiêu đơn vị bạn đánh chừng trên 500 mét. Theo kế hoạch, chúng tôi đào công sự, ém pháo để sẵn sàng chi viện cho bộ binh chống càn trong ngày hôm sau. Nơi đây cách Sài Gòn chừng 25 kilômét đường chim bay. ánh điện từ phía ấy hắt lên, rực sáng một vùng trời rồi phản chiếu xuống, nên mặc dù đêm tối, chúng tôi vẫn thấy rõ mặt đất để đào công sự. Thứ ánh sáng đó đã từng lay thức nhà thơ Lê Anh Xuân và được anh thể hiện qua cảm xúc da diết, cháy bỏng của mình:


Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy


Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về…


Nhưng đó là khát vọng của anh – một nhà thơ – chiến sỹ, một người con Nam Bộ xa xứ. Còn đối với chúng tôi, nơi vầng sáng hắt lên ấy là mục tiêu trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng… Nhưng chí ít, đêm nay, nó đã gián tiếp cung cấp ánh sáng để chúng tôi đào công sự chiến đấu…


… Đất Lộc Giang về mùa khô rắn như đá non. Đào gần hai tiếng đồng hồ mà vẫn chưa xong công sự cho người, lại còn công sự pháo nữa. Người nào người nấy mồ hôi ướt đẫm cả áo quần. Đang đào… Bỗng một một chớp sáng loé lên từ phía ngã ba Lộc Giang, tiếp theo là hàng loạt súng nổ rồi tiếng lựu đạn, tiếng cối của địch xen lẫn tiếng B40 và AK của ta. ánh hoả châu rực trời. Thì ra, đơn vị đặc công 429 khi đang cắt hàng rào kẽm gai để bò vào đặt mìn, chuẩn bị đến “giờ G” (giờ quy ước) là phát hoả bằng mìn ĐH10 (mìn định hướng 10 kg), sau đó dùng hoả lực và chiến thuật đặc công để giải phóng căn cứ này; do bất cẩn khi dò mìn nên đã chạm phải một trái sáng của địch gài dưới chân rào. ánh lửa bùng lên chói sáng cả một vùng. Bị lộ, đặc công buộc phải chuyển sang phương án đánh cường tập. Không đúng với ý đồ chiến thuật ban đầu. Kết quả, không những không giải phóng được Lộc Giang mà ngược lại, bị tổn thất nặng nề. Bộ đội thương vong nhiều, nên vừa tập trung hoả lực dìm đầu bọn địch ở các lô cốt đầu cầu vừa phải mang thương binh, tử sỹ ra. Chúng tôi được lệnh rút khỏi vị trí chiến đấu trong làn hoả lực dữ dội của các loại đạn bắn thẳng, phóng lựu M79 cùng đại bác 105 li,155 li, cối 106,7 li dưới ánh hoả châu của địch sáng như ban ngày, khi chưa đào xong công sự. Nhiều đồng chí trúng đạn, hy sinh ngay trên đường rút quân. Không rõ nguyên cớ nào mà đồng chí  Doãn, chính trị viên phó đại đội tôi (quê Quảng Bình) bị địch bắt sống. Chúng tra tấn anh dã man nhưng không khai thác được gì. Ngày hôm sau, chúng giết anh rồi đem ra chợ Lộc Giang bêu đầu để thị uy dân chúng.


Trước đó, khi vào trận, một số anh em của đơn vị bạn (đặc công 429) đã đào sẵn một dãy dài 14 cái huyệt ngay cạnh trận địa chúng tôi. Sau này khi bị lộ, đánh không dứt điểm, hy sinh nhiều, họ đưa các anh em hy sinh ra mai táng tại đấy. Không đủ huyệt mai táng, số còn lại phải đưa ra cứ ngoài bưng mới chuyển đi nơi khác chôn cất được.


Sau này, tìm hiểu, tôi mới biết, theo quy định của các đơn vị đặc công, trước lúc chiến đấu đều phải đào huyệt trước như vậy. Đánh xong dù thắng hay bại, nếu có tử sỹ, sẽ sẵn huyệt chôn ngay để kịp bàn giao trận địa cho đơn vị khác rồi rút trước khi trời sáng…


Đó là trận đầu tiên, tôi tham gia nhưng đã nếm mùi thất bại.


Chúng tôi được lệnh lui về Gò Nổi, trở lại trận địa cũ.


Ngày hôm sau, sư đoàn 25 (Tia chớp Nhiệt đới ) và sư đoàn 5 nguỵ nống ra càn quét để thăm dò và nếu có thể sẽ tiêu hao, tiêu diệt lực lượng ta. Sau khi chạm trán với bộ binh địch bằng một cuộc đọ súng dữ dội, cối 82 li của chúng tôi chi viện đắc lực cho bộ binh tiểu đoàn 9, góp phần đẩy lui chúng ra xa. Địch gọi pháo binh và không lực yểm trợ. Pháo từ các căn cứ Đức Hoà, Hậu Nghĩa tới tấp dội xuống trận địa như mưa. Tiếp đến là các đợt không kích dữ dội của chiến đấu cơ A37 theo chỉ điểm từ trái khói của trinh sát L19. Một cụm khói trắng bốc lên là bọn phản lực thi nhau bổ nhào, trút bom. Trận địa mù mịt trong lửa bom và đạn pháo của địch. Nhiều đồng chí ở các đại đội bộ binh phía trước hy sinh và bị thương.


Sau trận bom và pháo bầy đó, địch lại liều lĩnh xông vào. Lần này chúng thận trọng hơn. Hoả lực bộ binh địch thi nhau đổ đạn vào trận địa. Chúng tôi ở phía sau không trực tiếp với bộ binh nhưng lại hứng chịu bom, pháo rất nặng nề. Trung đội cối có một người hy sinh, hai người bị thương. Phía trước, ta lại đánh bật địch ra. Cái công thức bom, pháo tái diễn, rồi bộ binh lại tràn vào …


Khoảng 3 giờ rưỡi chiều, sau nhiều lần phản kích không thành, địch rút khỏi trận địa dưới tầm đại bác của chúng. Pháo địch từ Hậu Nghĩa, Đức Hoà bắn yểm trợ để bộ binh địch rút lui được an toàn.


Các đơn vị của ta thương vong khá lớn chủ yếu do bom, pháo. Trung đoàn lệnh nhanh chóng giải quyết hậu quả, chuyển thương binh xuống bờ sông Vàm Cỏ Đông để du kích chở bằng xuồng lên cứ tiền phương thuộc bưng Đức Huệ, bên kia sông. Tử sỹ thì mai táng tại khu vực gần đó nhưng không được đắp núm. Chỉ vẽ sơ đồ, gửi lên trung đoàn bộ để lưu giữ, sau này có cơ hội tìm lại. Nếu đắp mộ, sau khi ta rút rồi, địch càn ra, sẽ dùng chất nổ quật tung xác anh em mình lên. Đã có nhiều trường hợp như vậy xảy ra với các đơn vị bạn rồi.


Tôi cũng không ngờ rằng, chỉ đêm hôm sau thôi, tôi bị thương trong một trận tao ngộ chiến có một không hai của lịch sử trung đoàn!


 Đêm ấy (4/5/1972), chúng tôi di chuyển trận địa. Cũng tại địa bàn Gò Nổi nhưng triển khai ở một hướng khác, đề phòng ngày mai địch sẽ đánh tiếp.


 Khoảng 6 giờ tối, trinh sát tiểu đoàn phối hợp với trinh sát của đại đội 25 (đặc công) bám địch để đưa bộ đội vào chiếm lĩnh trận địa. Khoảng gần 8 giờ họ trở ra và cho biết tình hình an toàn, không có địch. Liền sau đó dẫn bộ đội vào vị trí. Hôm ấy, tôi được đồng chí Nguyễn Văn Điệp, đại đội trưởng, giao nhiệm vụ đi cùng với trinh sát để nhận vị trí trận địa. Chúng tôi lặng lẽ đi rất tự tin, ít ai cảnh giác địch vì chính những đồng chí trinh sát này vừa mới trở về, dẫn đường. Chừng 30 phút sau, dưới ánh trăng thượng tuần, đang đi, chúng tôi bất chợt phát hiện mờ mờ hai bên đường rất nhiều tăng bạt, màn tuyn sùm sụp. Có mấy bóng người rất gần, tiến lại. Đồng chí Lợi (người Quảng Ninh, sau này là đại đội trưởng đại đội 3, tiểu đoàn7) tiến đến vỗ vai một người rồi hỏi bằng giọng Nam Bộ: “Đơn vzị nào vzậy?” Có tiếng đáp: “Dạ thưa, Hai lăm đó, anh Hai”. Chúng tôi ai cũng nghĩ là lính của đại đội 25 (đặc công) của trung đoàn. Chợt, mấy bóng đen chụp vội mũ sắt lên đầu rồi lao vào chỗ tối. Hình như chúng đã phát hiện ra điều gì. Linh cảm của người lính mách bảo có điều chẳng lành, tôi nghĩ nhanh: “Địch! Chúng đang lao vào ụ súng!”. Tôi xoay ngang AK, nhắm vào chỗ đó xả đạn, rồi mở rộng hướng, quạt mạnh vào đám tăng màn lổn nhổn. Nhiều tiếng la hét thất thanh. Các đồng chí khác cũng hướng AK vào những chỗ có tăng bạt, nổ súng. Tôi nhằm hướng vừa vào, bật chạy trở lại. Trận tao ngộ chiến bắt đầu! Súng địch từ hai hướng bắn chéo cánh sẻ vào đội hình hành quân của ta. Nhiều đồng chí hy sinh tại chỗ. Tôi vừa chạy, vừa bò, cốt làm sao thoát nhanh ra khỏi chỗ đó. Đang bò, chợt phát hiện ở phía bên trái những ánh chớp loé lên liên tục. Tôi hướng nòng AK vào đó siết cò. ánh chớp tắt ngấm. Tôi vụt dậy, lao đi. Lúc này pháo sáng (hoả châu) địch đã tung lên đầy trời. Cũng may mà ở đấy có khá nhiều cây lúp xúp. Tôi chạy lom khom giữa các lùm cây. Đang chạy, bỗng một ánh chớp và tiếng nổ chát chúa rất gần trước mặt. Tôi thấy nhói đau ở phía trong cổ chân và bắp chân trái. Biết mình bị thương nhưng vẫn cố sức chạy tiếp. Được một lúc, tôi chợt thấy tối sầm mặt mày rồi ngã xuống. Nhờ ánh hoả châu, tôi phát hiện trước mặt có một cái hố. Bèn lết nhanh đến đó rồi trườn xuống. Đó là một hố pháo. Lúc này, địch đã gọi cối 81 và pháo giã cấp tập vào phía sau đội hình chúng tôi, để chặn không cho ta rút. Lợi dụng ánh sáng, tôi giật vội cuộn băng bên dây lưng xé ra, buộc chặt vết thương. Hai mảnh M79 găm vào chân trái tôi. Một ở cổ chân, một ở bắp chân phía trong. Mất nhiều máu nên tôi bị choáng. Đạn cối địch rơi rất gần nhưng may là tôi đã nằm gọn dưới hố pháo nên không việc gì. Tôi chợt thấy khát nước. Chắc do mất nhiều máu và mồ hôi. Tôi thấy trời đất chao đảo rồi tối sầm…


… Tỉnh dậy, thấy mình vẫn nằm dưới hố pháo. Tiếng súng đã im từ lúc nào. Chân trái đau nhói và nặng chịch. Cơn khát cháy họng lại kéo đến. Tôi rút dao găm khoét đất rồi úp mặt vào đấy, hít mạnh mong tìm kiếm chút hơi nước. Nhưng chẳng ăn thua gì. Tôi nắm lấy cổ chân trái gần chỗ bị thương thử nhấc lên, nhưng đau quá và rất nặng. Tôi hoàn toàn mất khả năng định hướng và vô thức trước thời gian, không gian. Một lần nữa, sức mạnh của bản năng tự tồn đã giúp tôi nghị lực để vượt qua. Tôi gắng hết sức mình trườn lên khỏi hố pháo. Nhìn lên trời, thấy một ngôi sao lớn, biết là sao Mai. Tôi giật mình: “Chết! Trời sắp sáng!”- Tôi nghĩ: Nếu không cố gắng vượt ra khỏi chỗ này, sáng ra, địch càn, nhất định chúng sẽ bắt sống hoặc bắn chết. Cố gắng lắm, tôi mới khoác được AK lên lưng, định hướng, rồi cố lê bước, nhưng không thể được. Tôi đành phải trườn. Cơn khát cháy họng cùng với cái đau đã làm tôi nhanh chóng kiệt sức. Tôi huơ tay trên cỏ cho sương đêm dính vào cánh tay rồi liếm lấy. Những giọt sương ấy như một thứ thần dược đã làm cho tôi hồi tỉnh. Tôi cố gắng bò tiếp. Không biết được khoảng thời gian bao lâu, chợt thấy phía Đông bầu trời chuyển sang màu trắng. Pháo địch ở các căn cứ đã bắt đầu bắn cầm canh. Tôi nghĩ nhanh: “Mình không thể nào ra được đến bờ sông! Phải nhanh chóng tìm chỗ ẩn nấp”. Tôi chọn mấy lùm cây lúp xúp, lá dày và giống như lá nón liền chui thử vào đó. Thấy rất kín, tôi nằm luôn như vậy rồi thiếp đi lúc nào không biết nữa…


… Đang mơ màng, bỗng nghe tiếng phành phạch của trực thăng, rồi nhiều loạt AR15 dội lại. Tôi choàng mở mắt. Mặt trời đã lên cao, chói chang. Bọn địch đã nống (càn, phát triển) ra giải toả. Chúng đang lục soát để tảo thanh. Tôi cố gắng nhấc mình lên quan sát nhưng không thấy gì, chỉ nghe tiếng la hét của những đồng chí bị thương, tiếp theo là những loạt súng rồi tiếng rên la im bặt. Tôi biết chúng đang lôi những đồng chí bị thương nặng đêm qua, không chạy được, ra bắn. Rồi sẽ đến lượt mình – Tôi nghĩ. Bình tĩnh, tôi cho AK xuống dưới bụng, nằm thu mình lại rồi rút lựu đạn cầm tay. Ngón trái giữa cho vào vòng chốt thép, sẵn sàng. Tôi tính toán, nếu chúng tới mà phát hiện ra tôi, nhất định chúng sẽ gọi hàng. Lúc này dùng súng sẽ bất tiện. Tốt nhất là chọi lựu đạn trước rồi bật dậy dùng AK bắn bồi. Sau đó, hy sinh. Sự chờ đợi làm cho thần kinh tôi căng như sợi dây đàn. Đang nghĩ mông lung, bỗng có tiếng chửi thề rất gần: “Đ… mẹ, lục soát kỹ đi tụi bây! Chắc nó còn đâu đây!”. Thế là “tới số” rồi! – Tôi nghĩ . Phen này thế nào chúng cũng sẽ tìm thấy mình. Tôi thấy tim như thắt lại. Trấn tĩnh, tôi chợt nhớ đến kinh nghiệm của các đồng chí cựu binh ở chiến trường. Họ cho biết tụi lính nguỵ thường “đánh giặc mồm” để hù doạ. Chúng vờ chửi thề, la hét vu vơ như vậy, nếu ai yếu bóng vía, hoảng sợ sẽ đầu hàng hoặc mất bình tĩnh, làm lộ mục tiêu. Tôi trấn tĩnh, chờ đợi… Có tiếng nói chuyện rồi tiếng bước chân rất gần. Chúng đã đến! Tôi nín thở. Một chiếc giày xuất hiện cách bụi cây tôi nằm chừng một mét. Tim tôi như ngừng đập. Tên lính nhanh chóng đi qua. Tiếp đến, rất nhiều bước chân khác dẫm theo thằng vừa nãy. Có lẽ do nắng quá nên chúng nhìn ra xa chăng…?. Chúng lần lượt đi qua. Không đứa nào phát hiện ra tôi cả. Tôi thở phào. Cơ thể ướt đầm vì mồ hôi. Tôi đang mừng vì có lẽ thế là thoát. Đột nhiên, có tiếng thét rất gần: “Đó! Đó! Nó nằm trong bụi cây đó!”. Tôi rút chốt lựu đạn, chuẩn bị ném nếu chúng bước thêm mấy bước nữa. Nhưng rồi hình như cũng tiếng thằng lính đó cười lên sằng sặc và chửi thề: “Đ… mẹ! Về thôi tụi bây, tụi nó chết hết rồi. Đi nữa coi chừng ăn trái gài (lựu đạn gài) của Việt Cộng đó nghen!”. Và đột ngột, chúng rẽ sang hướng khác. Tiếng nói xa dần. Thế là thoát – tôi thầm nghĩ. Lúc này cơ thể như nhão ra. Từ nãy, cơn khát biến đâu mất, bây giờ nó đột ngột trở lại, và càng dữ dội hơn. Tôi bị thương mất nhiều máu từ tối qua, từ sáng đến giờ lại ra nhiều mồ hôi do phản ứng tâm lý cộng với nắng gắt. Mắt tôi hoa lên. Đẩy chốt lựu đạn trở lại, tôi kéo vội một nắm lá cho vào miệng nhai hòng tìm lấy chút nước, nhưng không thể nào nhai nổi. Khát, đói cùng với cái đau đớn do vết thương sưng tấy đã làm tôi kiệt sức. Trời đất lại tối sầm… Tôi không còn biết gì nữa…


…Tôi từ từ mở mắt vì chợt thấy man mát. Định thần, tôi lục lại trí nhớ. Sự việc dần dần hiện ra như một cuốn phim quay chậm. Trời đã xế chiều. Không gian im lặng gần như tuyệt đối. ở chiến trường này, sự im lặng như thế quả là rất hiếm. Tôi thấy chân trái mình như ai đeo vào một tảng đá và nhức nhối vô cùng. Tôi thò tay nới lỏng cuộn băng. Chân trái tê dại và cứng đờ. Suốt từ đêm qua đến giờ nó bị bó trong cuộn băng và ống quần. Tôi thử nhấc lên nhưng không được. Tôi thò tay khoá súng lại rồi cố lết ra khỏi bụi lá nón. Một lần nữa, sự sống và cái chết lại đặt tôi trước sự lựa chọn. Không còn cách nào khác là phải cố gắng vượt qua. Tôi khoác AK lên lưng rồi định hướng, lết bò đi. Lúc này đã gần tối. Tôi nhích từng mét một trong sự hy vọng mong manh. Đang bò, tôi chạm phải sợi dây điện. Ngỡ đó là dây mìn. Tôi giật mình: “Hay là bọn địch gài mìn?!” Tôi thử kéo nhẹ sợi dây về phía mình. Biết không phải dây mìn, tôi thở phào! Thì ra đó là sợi dây thông tin của ta (loại dây điện Liên Xô lúc ấy). Tôi đoán đêm qua, thông tin hữu tuyến của tiểu đoàn rải theo bộ binh vào để liên lạc. Khi trận tao ngộ xảy ra, họ không kịp cuốn, đã bỏ lại trận địa để rút lui. Tôi mừng thầm: “Mình sẽ lần theo sợi dây này để trở ra, mong sao gặp được các đồng chí trở lại tìm kiếm thương binh, tử sỹ!” Nhưng, bò rồi trườn được một lúc, sợi dây điện cũng hết (do bị đứt). Tuy vậy, tôi đã xác định được hướng và tiếp tục bò. Lúc này trời đã tối hẳn. Không còn cách nào khác là phải tiếp tục nỗ lực tự thân, khắc phục khó khăn để tìm sự sống. Nghỉ sức một lát, tôi lại nhắm hướng tây bò tới. Đến khoảng 7 giờ tối, đang bò, tự nhiên nghe thoảng trong gió mùi thuốc thơm “Ruby” (hồi đó tôi rất nghiện thuốc lá, nên nghe mùi thuốc là có thể biết loại gì rồi). Tôi giật mình, nghĩ nhanh: “Hay là địch phục kích?”. Thận trọng, tôi chuyển AK xuống tay rồi bò bám lên. Càng gần, mùi thuốc càng thơm lựng. Rồi có tiếng nói chuyện thầm thì. Tôi cảnh giác… nhích tới… Tiếng nói chuyện nghe càng rõ hơn. Lại có cả giọng Nghệ – Tĩnh, tôi đoán là bộ đội mình nhưng chưa thật tin, cẩn thận trườn tới một đoạn nữa. Nhìn qua ánh tàn lửa điếu thuốc khi họ rít, thấy vành mũ tai bèo và đầu súng AK dựng bên vai – “Anh em mình!”- Tôi nghĩ. Khoá vội súng, tôi la lên: “Các đồng chí ơi! Cứu tôi với!…”. Chỉ có thế, rồi tôi chẳng còn biết gì nữa…


…Tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên xuồng. Mấy đồng chí đang gò lưng đẩy xuồng qua đám cỏ bàng. Tôi nghe rõ tiếng người reo lên: “Kìa, cậu ấy tỉnh rồi!”. Tôi đòi uống nước, rồi bắt đầu lục lại trí nhớ và biết mình đang được anh em chở bằng xuồng lên cứ tiền phương ở bưng Đức Huệ. Nhờ được bón nước và tiêm thuốc trợ lực nên tôi hồi tỉnh khá nhanh. Khoảng gần 4 giờ sáng thì xuồng đến trạm phẫu của Trung đoàn. Tôi được đưa ngay vào để xử lý vết thương. Đã gần hai ngày đêm, kể từ lúc bị thương đến giờ vết thương đã bắt đầu nặng mùi. Tôi cứ nghĩ là chân sẽ bị hoại tử. Nhưng thật kỳ diệu, vết thương không những không hoại tử mà ngược lại, rất chóng lành. Các đồng chí quân y cho biết vết thương ở cổ chân có bị mẻ xương. Mấy ngày sau, khi đã tỉnh táo, tôi mới bắt đầu hỏi chuyện các đồng chí xung quanh. Được họ cho hay, hôm đó chúng tôi hy sinh mất gần 60 đồng chí. Những đồng chí bị thương nặng không ra được, hôm sau, khi địch càn ra, chúng lôi lên rồi bắn chết hết.


Ở trạm phẫu này, tôi mới biết mình là một trong sáu đồng chí bị thương còn lại, tự bò ra được nên sống sót. Sau trận ấy, có tin đồn ra Bắc là tôi đã hy sinh. ở nhà, mọi người cho rằng tôi đã chết. Nghe nói, mẹ tôi ngất lên, ngất xuống. Bà khóc tôi đến không còn nước mắt và tinh thần suy sụp đến kiệt quệ. Mãi đến sau 30/4/1975 gần một năm, ở nhà mới nhận được thư của tôi. Lúc ấy mẹ mới thực sự tin là tôi còn sống. Trận tao ngộ chiến năm ấy đã đi vào lịch sử, nhưng dư âm về nó thì mãi mãi còn trong tâm thức của mỗi chúng tôi như mới ngày hôm qua. Có thể nói, đó là một tình huống hết sức hy hữu. Sau này chúng tôi thường gọi đùa là trận “Bắt tay với sư đoàn 25 – Tia chớp Nhiệt đới”.


Nguyên do trận ấy, sau khi trinh sát nắm địch tại nơi chuẩn bị đưa bộ đội vào tập kết để chiếm lĩnh trận địa, không thấy dấu hiệu có địch, cho là an toàn, liền rút về, dẫn bộ đội lên. Lẽ ra, phải để lại một bộ phận, tiếp tục cảnh giới và theo dõi địch tình, thì lại rút hết. Vì vậy, thời gian trống giữa hai lần vào, ra của trinh sát ta, thình lình hai đơn vị của sư 25 và sư 5 nguỵ đã bí mật hành quân đến, đang triển khai đội hình dã ngoại thì gặp phải lực lượng ta vào. Cả hai bên đều bất ngờ. Đến lúc phát hiện ra nhau thì tá hoả và trận tao ngộ chiến xảy ra. Hai bên xả súng vào nhau tán loạn. Mạnh ai nấy chạy. Chúng tôi tổn thất nặng nề. Hy sinh quá nhiều. Một số đồng chí bị địch bắt sống. Bài học xương máu về công tác trinh sát được rút ra khi cái giá phải trả cho nó đã quá đắt!…


Sau gần ba tuần điều trị, tôi đã bình phục. Tôi cũng không ngờ vết thương và sức khoẻ của mình lại mau phục hồi đến vậy. Chiến dịch “Nguyễn Huệ” đang ở cao điểm, đòi hỏi tăng cường lực lượng cho chiến đấu. Tôi trở lại đơn vị mấy ngày sau đó để chuẩn bị bước vào trận mới…


… Ngày 17/5/1972 Trung đoàn 271 được lệnh vào thế chân H.24 (Trung đoàn độc lập của khu 8) đã đứng chân và chiến đấu với quân nguỵ hơn nửa tháng nay, lập nhiều chiến tích nhưng cũng thương vong rất nặng nề, không còn đủ sức chiến đấu nữa. Phải rút ra.


loading...

Đêm ấy, từ Gò Nổi hành quân vào chiếm lĩnh trận địa ở ấp An Thuận, chúng tôi cắt qua những khoảnh ruộng còn vương mùi thuốc đạn và làng mạc cháy rụi vì bom na-pan địch ném sáng nay. Một cảnh tượng đến bây giờ, sau hơn 30 năm vẫn còn như in trong trí tôi. Đó là cảnh xóm ấp bị cháy trụi, xơ xác. Trong một khu vườn nhỏ, bên ánh lửa leo lét từ những mảnh gỗ còn sót lại của ngôi nhà bị cháy, một người phụ nữ nào đó đang gào khóc thê thiết vì những người thân trong nhà bị chết sáng nay, do pháo địch bắn đến. Chị ta chạy thoát. Đêm về, gào khóc, bới tìm xác người thân trong đống đổ nát.


Đại đội 4 hoả lực, ngoài 2 trung đội đại liên và cối 61 đi phối thuộc, chi viện cho các đại đội bộ binh, còn lại trung đội cối 82 nằm phía sau đại đội 1, 2 và 3 trong đội hình tác chiến của tiểu đoàn để chi viện khi có lệnh. Chúng tôi đào công sự trong vườn nhà má Tám (năm ấy má đã gần 70 tuổi).


Đào công sự cho người xong, chuyển sang đào cho pháo. Về mùa khô, mỗi nhát cuốc bổ vào đất như bổ vào đá. Mãi đến gần 7 giờ sáng mà công sự vẫn chưa xong. Tổ chúng tôi có 3 người: tôi, Đinh Bát Chương (khẩu đội phó, người đã giúp tôi vác bàn đế cối 82 lúc vượt qua bãi lầy để vào binh trạm đầu tiên – binh trạm 5) và Tô Thanh Chung (người dân tộc, quê Quỳ Hợp, Nghệ An) xạ thủ dự bị. Hai người tiếp tục đào. Còn tôi, chạy ra khoảnh ruộng trước mặt, nơi có vô số vỏ ống rốckét mà sau khi bắn, trực thăng ném xuống, nhặt một ôm khoảng chừng 15 cái. Tôi nhặt 2 lần được gần ba chục cái (loại ống làm bằng hợp kim nhôm duyra nên rất cứng và nhẹ) đủ để lát mặt công sự. Chúng tôi khẩn trương lấp đất lên trên. Thế là tạm ổn. Tôi gối đầu lên ba lô dưới một bụi cây bớp bớp (Nam Bộ gọi là cây Cộng sản, vì loại cây này có sức phát triển mau lẹ và mạnh mẽ) xoè tán che kín bên cạnh một bụi tre. Giấc ngủ kéo đến tự lúc nào…


… Bỗng, trời đất chao đảo, tôi cảm giác như có một trận bão siêu mạnh quật vào người. Tai ù đặc. Mặt rát như ai ném mạnh cả rổ cát vào. Sống lưng đau nhói. Tôi choàng mở mắt. Một khoảng trời sáng rực sau đám bụi, khói. Đảo nhìn, thấy toàn bộ khu vực xung quanh mình trống hoác, chẳng còn cây cối gì nữa. Tăng, võng, xoong quân dụng bay mắc lên cành cây. Hầm cối 82 ly, tung hết nguỵ trang, trơ ra toàn bộ. Tôi chợt hiểu, mình đã bị bom! Nhanh chóng, tôi lết xuống công sự. Chung cũng lồm cồm bò theo. Vừa xuống, căn hầm tối om. Chợt một bàn tay vỗ nhẹ lên đầu tôi. Trong bóng tối, tôi căng mắt nhìn: Đinh Bát Chương đã ngồi dựa vào vách hầm từ lúc nào. Nhìn kỹ, tôi thấy từ hai bên khoé miệng anh, hai dòng máu chảy xuống. Biết anh bị thương, tôi vội sờ nắn khắp người nhưng không thấy có máu hay vết thương nào cả. Sờ lên bên trái cổ, thấy có một cục to như quả trứng vịt nổi lên. Tôi hét to: “Anh bị thương ở chỗ nào?” Chương không trả lời được mà chỉ há hốc miệng, thở gấp, mắt trừng trừng nhìn xoáy vào mặt tôi (cái nhìn ấy sau hơn 33 năm đến giờ tôi vẫn không thể nào quên được. Cái nhìn như khẩn cầu: Hãy cố gắng cứu lấy anh ấy). Một dòng máu từ cái miệng há hốc ấy trào ra. Rồi nó ồng ộc xối xuống chân tôi nóng bỏng. Tôi ứa nước mắt, bất lực vì không có cách gì để cứu anh… Máu trong người anh đã tuôn ra hết. Tôi xê dịch bàn chân, máu nóng lõng bõng dưới chỗ ngồi. Chương ngoẹo đầu sang một bên, gục xuống. Anh đã tắt thở. Tôi vuốt mắt và để cho đầu anh thẳng lại. Rồi quay lại hét to vào tai Chung: “Anh Chương chết rồi!”. Chung gật đầu rồi nói gì, tôi không nghe rõ. Trên không, tiếng gào rít của máy bay bổ nhào cùng tiếng bom nổ inh tai và hỗn tạp âm thanh của rốckét, đạn 20 ly, trọng pháo… Công sự chúng tôi rung lên bần bật qua từng loạt bom dội xuống. Đất, bụi rơi xuống làm mù mịt căn hầm. Công sự chật quá, không thể quay trở được, tôi đành phải để Chương trong tư thế ngồi duỗi thẳng chân mà không thể đặt anh nằm xuống. Nếu đặt nằm, cơ thể anh chiếm hết chiều dài công sự. Và như vậy, buộc chúng tôi phải ngồi lên người anh. Tối hôm đó khi đưa lên khỏi công sự, cơ thể anh lạnh ngắt và cứng như khúc gỗ, duỗi cách nào cũng không thẳng được. Đơn vị đành phải chôn cất anh trong tư thế chữ V. Phần tôi, sau khi Chương hy sinh, bình tĩnh trở lại, mới chợt thấy đau nhói chỗ thắt lưng. Tôi bị một khúc cây do bom cắt cụt ném đập mạnh vào sống lưng. Bây giờ, mới thấy đau và tức ngực. Đau ở cả hai mang tai. Đầu kêu ong ong… o o… choáng váng. Tôi sờ tay lên khoé miệng và tai, đều thấy máu chảy ra. Tôi bị sức ép bom làm thủng màng nhĩ trái, máu chảy ra nhiều. Chung cũng bị sức ép giống tôi. Cả hai điếc đặc, chỉ ra hiệu cho nhau và khi nói thì nhìn vào miệng nhau để hiểu. Sau này, tôi mới biết, Chương chết vì sức ép bom nén dưới công sự, làm vỡ tim. Khi chiếc trinh sát L19 phát hiện ra trận địa chúng tôi, liền bắn trái khói chỉ điểm vào đấy. Chương biết trước vội nhào xuống công sự và ngồi dưới đó. Quả bom sát thương nổ chỉ cách chỗ tôi nằm khoảng 6 mét, bên kia bụi tre. Nếu không có bụi tre che đỡ, ba chúng tôi sẽ chẳng còn ai. Hầm trú ẩn chỉ có một cửa nên sức ép bom không thoát ra được đã làm Chương vỡ tim. Nếu lúc ấy, cả ba cùng xuống hầm, chắc chắn sẽ cùng chung số phận như Chương!


Ở khẩu đội bên kia, anh Tam (quê Cẩm Xuyên), anh Nguyễn Văn Tài (quê Thanh Lộc) anh Nhâm (quê Song Lộc) đều hy sinh vì quả bom ấy. Thương tâm nhất là Tài và Nhâm cả hai đều chết không toàn thây. Tài bị một mảnh bom cắt phạt mất hẳn phần mặt phía trước, chỉ còn từ mang tai trở ra sau. Nhâm thì bị bom hất tung lên rồi ném ra giữa ruộng, ngực và bụng anh bị phá nát. Tối đến, mới dám ra đưa anh đi chôn cất (ban ngày sợ bị lộ). Bốn người, trong đó có Đính, đưa anh vào khu vườn gần đấy để liệm rồi mai táng. Cả tôi và Đính đều khóc cho hai người đồng hương Can Lộc xấu số, rồi bảo nhau: “Nếu ngày hoà bình còn sống, sẽ đắp lại mộ phần cho hai đứa và vẽ sơ đồ để sau này chỉ cho gia đình họ”. Nhưng ước vọng ấy không thực hiện được. Bởi sau giải phóng, tình hình phức tạp. Chúng tôi phải chuyển quân liên tục, không có thời gian nghỉ. Cuối 1975, khi chúng tôi trở lại thì mộ của hai người đã được đưa vào nghĩa trang Đức Hoà nhưng lại biến thành mộ liệt sỹ vô danh. Mặc dù hôm ấy, tự tay tôi viết tên tuổi, địa chỉ quê quán… rồi cho vào chai thuỷ tinh nút chặt, bọc nilon bên ngoài, vậy mà khi cất bốc, những người quy tập thiếu cẩn trọng, đã làm mất địa chỉ và tên tuổi của họ.


Hôm ấy, hai khẩu đội cối chúng tôi hy sinh và bị thương 13 người (8 người hy sinh). Mặc dù bị thương nhưng tôi vẫn không đi viện vì lúc này, đơn vị không còn người nữa. Tôi từ biệt Chung. Cậu ta đi viện ngay đêm ấy và kể từ đó chúng tôi không hề gặp nhau nữa. Như vậy là tròn một năm, sau ngày nhập ngũ, đúng ngày 18/5/1972, tôi bị thương lần thứ hai.


Khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi được lệnh di chuyển sang khu vườn bên cạnh nhà má Tám, để đào công sự chuẩn bị tác chiến ngày mai. Mặc dù đau, không đào được nhưng tôi vẫn ngồi với anh em để giúp họ một vài việc lặt vặt. Tôi chẳng nghe được họ nói gì vì hai tai điếc đặc. Anh Nguyễn Văn Điệp  (quê Nam Đàn), đại đội trưởng chúng tôi bị thương nhẹ, vẫn đến động viên anh em cố gắng đào xong sớm công sự để có thời gian nghỉ lấy sức cho trận đánh ngày mai.


Đêm. Tiếng pháo cầm canh vẫn bắn đến từ nhiều hướng. Lửa từ những ngôi làng vẫn leo lét cháy. Pha lẫn trong gió khô khốc là mùi khét của xác trâu bò và người bị chết cháy do bom xăng sáng nay.


Sáng 19/5. Địch nống ra càn sớm, các đại đội bộ binh của tiểu đoàn chạm súng với địch. Chúng lui ra, gọi pháo và bom. Chúng tôi lại gồng mình lên đội bom, pháo suốt một ngày ròng rã. Biết rõ sự lợi hại của hoả lực cối 82, chúng tìm cách tiêu diệt. Địch cho một trung đội bí mật thọc sâu, thăm dò để đánh vào đại đội hoả lực của chúng tôi. Tình huống khá bất ngờ và nan giải vì vòng ngoài là bộ binh ta nằm xen giữa các ấp. Không hiểu sao, tụi này lọt qua được hòng bất ngờ tập kích chúng tôi. Vì là đơn vị hoả lực nên súng bộ binh trang bị không nhiều. Khi phát hiện địch vào sát ngay đội hình, mọi người bình tĩnh chờ đợi. Khi những chiếc giày đầu tiên đặt lên sát bờ công sự, chúng tôi nổ súng. Nhiều thằng đổ vật xuống ngay miệng hầm. Chúng tôi chỉ việc thò tay ra lấy súng của chúng. AK từng loạt ngắn, găm vào đội hình địch. B40 bảo vệ cối cứ nhằm vào chỗ nào co cụm, siết cò. Bị bất ngờ, những tên sống sót chạy giạt ra, đụng phải bộ binh ta. Giữa hai làn đạn, chúng cố sống, cố chết vừa bắn vừa chạy tháo thân. Cối 82 bắn ứng dụng đuổi theo (bắn ứng dụng là cách bắn không cần bàn đế, không cần chân, chỉ thả mạnh nòng cối xuống đất rồi dùng tay trái giữ lấy, đồng thời ước lượng cự ly, tay kia thả đạn vào nòng). Xác địch nằm rải rác trên mặt ruộng.Ý đồ không thực hiện được, chúng tiếp tục gọi bom, pháo tới tấp dội xuống. Khoảng 10 giờ 30, đại đội trưởng Điệp lại bị thương. Lần này, anh bị nặng. Mảnh pháo găm vào mạng sườn phải, mất nhiều máu. Phía trước, bộ binh ta vẫn giao chiến với địch. Cối chúng tôi lại được lệnh phát hoả. Tôi thả liên tục gần chục trái đạn vào nòng bắn ra hướng tiền duyên cách đó 300 mét. Địch tháo chạy tan tác. Chúng rất sợ đạn cối 82 của ta. Bởi sức sát thương của loại đạn này là nỗi khiếp sợ và kinh hoàng của chúng.


Nhưng thật tệ hại! Không ngờ những trái đạn tôi vừa thả vào nòng cối lúc nãy lại được bọn pháo binh nguỵ ở chi khu Đức Hoà đo được qua tiếng đề-pa. Chúng tính toán cự ly rất chính xác. Một trận mưa pháo dội xuống đầu chúng tôi. Pháo bắn “chụm chân chó”, quả này cách quả kia chừng 3 đến 5 mét. May thay, trong vườn nhà má Tám có một cái hầm lớn (trảng xê) xuyên dưới gốc bụi tre, dùng để trú ẩn. Chiến sự nổ ra, dân đã sơ tán hết. Chúng tôi chui hết xuống đấy, tránh pháo. Nếu không, sẽ chẳng còn ai sống sót. Một trong hai khẩu cối bị một trái 155 li rơi trúng, bay mất. Đó là bài học kinh nghiệm xương máu đầu tiên khi bắn đạn cối. Sau này, lợi dụng lúc súng nổ đồng loạt, chúng tôi mới thả đạn vào nòng. (Tiếng nổ loạn xạ đó sẽ làm cho bọn pháo binh nguỵ bị nhiễu âm thanh, không thể đo được tiếng đề pa cối của chúng tôi).


Đêm ấy, sau khi giải quyết xong công tác thương binh, tử sỹ, chúng tôi buộc phải rời An Thuận, rút về Gò Nổi để bổ sung quân. Đêm sau, chúng tôi được lệnh chuyển đội hình xuống địa bàn xã Tân Phú, cách đó chừng 5 – 6 kilômét. Nơi đây, những ngày tiếp theo, tôi và đồng đội đã có những trận huyết chiến với sư 5 và sư 25 cùng một số đơn vị thuộc sư đoàn dù “Thiên thần mũ đỏ” của quân nguỵ Sài Gòn.


Ngày 22-5, chúng tôi được lệnh chốt chặn quân địch nống ra càn quét. Vì đêm trước, chi khu Đức Hoà bị đặc công của trung đoàn (đại đội 25) cùng với đơn vị bạn tập kích. Tiểu đoàn 9 được bố trí theo đội hình cánh cung. Cối chúng tôi vẫn ở phía sau để chi viện. Nói là chi viện nhưng lúc này đạn cối chẳng còn bao nhiêu. Bảy giờ sáng, những trận mưa pháo từ Đức Hoà, Hậu Nghĩa, Hiệp Hoà mở màn cho trận càn giải toả của địch. Đã có một số đồng chí thương vong do pháo. Trên đầu, L19 vè vè nghe rợn rợn. Chúng dò dẫm, sợ sệt. Rút kinh nghiệm những trận đánh trước, chúng tôi để cho địch vào sát công sự mới nổ súng. Thứ nhất là chắc ăn. Thứ hai là để giữ xác và những tên bị thương tại trận không cho pháo địch bắn vào (còn xác và bọn bị thương thì pháo sẽ chuyển làn ra xa) ta đỡ thương vong. Địch chết rất nhiều. Có những tên bị bắn đổ sấp lên mặt công sự. Bọn còn lại rú lên, tháo chạy thục mạng. Bị thất bại bất ngờ và cay cú, chúng lại gọi hoả lực chi viện. Từng đàn “cá lẹp” và “cán gáo” (hai loại trực thăng chiến đấu, cơ động lợi hại của Mỹ) bay đến cùng 2 giàn lớn rốckét bên dưới hông và đạn 20 li bắn như mưa lên đầu chúng tôi. Dứt trực thăng, các phi vụ bom từ A37 do L19 chỉ điểm, và trọng pháo lại thi nhau trút xuống. Trận địa lại chìm trong lửa pháo và bom. Nhưng độc ác hơn, lần này chúng sử dụng bom xăng. Loại xăng đặc. Sau tiếng rít xé tai của máy bay phản lực bổ nhào, nghe “ục, ục” mấy tiếng là lửa bắn ra theo xăng đặc dẻo quánh. Lửa trùm lên công sự của anh em bộ binh C2 (đại đội 2). Nóng và ngột quá do thiếu ô xy, nhiều đồng chí phải nhào lên khỏi công sự. Nhưng không thoát. Bên trên, lửa đã bao phủ cả một vùng rộng lớn. Họ lăn lộn trong lửa như những bó đuốc sống. Trực thăng liền xả đạn vào họ. Nhìn họ chết cháy, chúng tôi đau đớn, trào nước mắt mà không có cách gì cứu giúp được vì trên đầu thì trực thăng quần đảo; trước mặt là bộ binh địch sẵn sàng nhả đạn. Hồi ấy đại đội 2 có anh Đặng Văn Luyện, sau này đổi tên thành Đặng Thái Luyện (quê Trung Lộc) cũng bị thương trận này. Luyện, nay là Giám đốc Công ty Du lịch Long Phú – Đảo Khỉ ở Nha Trang, Khánh Hoà. Vừa qua, chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Tĩnh đã làm một phóng sự về anh. Đó là một giám đốc năng động, sáng tạo. Hà Tĩnh tự hào vì có những người con ngoan cường trong chiến đấu, lại giỏi giang trong quản lý kinh tế thời “mở cửa”.


… Pháo và bom tiếp tục dội xuống. Bây giờ thì pháo đã chuyển làn đúng vào trận địa cối chúng tôi. Anh Khang (Nam Đàn), khẩu đội trưởng hy sinh ngay trong loạt đạn đầu. Lê Văn Dung ở khẩu đội 2 (cũng quê Nam Đàn) hát hay, sáo giỏi (anh hay thổi bài “Anh vẫn hành quân” giống tiếng sáo Đinh Thìn) to cao, đẹp trai, da trắng và thường bẽn lẽn như con gái, bị một mảnh pháo găm đúng vào tim. Tôi và Đính kịp bò đến xốc Dung dậy thì anh đã tắt thở trên tay tôi, không nói được câu nào. Máu trào ra đẫm cả ngực áo. Anh Nguyễn Văn Sở (Nam Đàn), nhập ngũ tháng 8/1970, người thấp đậm, sinh viên khoa Văn năm thứ II, Đại học Sư phạm Vinh cũng hy sinh ở loạt pháo thứ 3. Một khẩu cối nữa lại bị pháo địch bắn trúng, hỏng nặng và bay đi. Trận địa chỉ còn duy nhất một khẩu. Lúc này tình thế hết sức gay go, ác liệt. Cơ số đạn còn rất ít. Phải bắn cầm chừng. Chờ lúc nào súng bộ binh nổ rộ thì bắn vài quả để doạ địch chứ không thể có khả năng phản kích, tiêu diệt chúng.


Tuy ác liệt thế, nhưng trận chống càn nào cũng có những tình huống rất lạ và buồn cười. Cứ khoảng 11 giờ trưa trở đi, cả ta và địch đều có những thời khắc im lặng đến nghẹt thở. Không một tiếng pháo. Không có tiếng máy bay. Không một tiếng súng. Hình như cả hai đều muốn có những giây phút yên tĩnh để nghỉ ngơi, thư giãn. Bởi vì tất cả đều mệt mỏi, căng thẳng. Bọn địch nằm ngoài đồng trống trong cái nắng cháy da người. Chúng phải đội lên đầu những túm rạ. Có nhiều thằng úp mặt lên bờ ruộng để ngủ. Phía ta, có một vài người hiếu thắng, cứ lấy phần tử chính xác rồi bất ngờ đưa một viên AK vào chiếc mũ sắt. Viên đạn xuyên thủng mũ rồi cắm vào hộp sọ thằng lính, khiến nó bật ngửa ra chết ngay tức khắc. Vậy là tiếng súng lại rộ lên. Cả hai bên lại tiếp tục xả đạn vào nhau. Sau này, rút kinh nghiệm, chúng dùng đầu súng AR15 lồng vào mũ sắt đưa lên. Lính ta ngắm bắn, chiếc mũ sắt xoay tròn trên đầu súng. Chúng làm vậy nhằm phát hiện ra chỗ của đồng chí điểm xạ AK để dùng hoả lực tiêu diệt. Tôi nhớ, trận ấy có đồng chí Nguyễn Văn Chuân, quê ở xã Cộng Hoà, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Hưng, người thấp nhỏ, nhanh nhẹn, bắn hoả lực B40. Hôm đó Chuân chiến đấu rất dũng cảm. Bắn nhiều trái B40, tiêu diệt rất nhiều địch. Sau khi địch phản kích, đồng chí bắn AK ngồi cùng công sự với Chuân không may hy sinh. Chuân không còn người bảo vệ nữa nên rút về tuyến sau. Anh men theo một bờ ruộng, bò nhấp nhổm, bị địch phát hiện được. Một tên lính bắn M79 đã ngắm vào Chuân nổ súng. Trái M79 rơi trúng khẩu B40, nổ ngay trên vai Chuân. Chuân hy sinh tại chỗ.


Tiểu đoàn phải cầm cự đến 3 giờ chiều, địch mới chịu rút quân, sau khi nã pháo để yểm trợ. Tiểu đoàn 9 tổn thất nặng nề về người và vũ khí. Pháo địch vẫn bắn tới nhưng thưa hơn. Tối đến, chúng tôi nhanh chóng chôn cất tử sỹ và chuẩn bị bàn giao thương binh cho du kích và giao liên địa phương để chuyển lên cứ. May thay, trong trận ấy và cả những trận sau này, tôi, Đính và anh Tiến (quê Nam Đàn) đều không ai hy sinh cả. Chỉ có mấy lần bị thương.


Ngay đêm ấy, chúng tôi được lệnh rời khỏi Tân Phú. Các đại đội bộ binh 1, 2 và 3 phía trước thương vong rất nhiều. Chúng tôi rút ra bưng ém lại, chờ bổ sung quân để tiếp tục vào trận mới.


Ra cứ, tôi mới có dịp soi lại mặt mình qua mặt nước hố bom. Chỉ mới hơn một tuần đánh nhau mà không nhận ra mình nữa. Hai mắt thụt sâu, thâm quầng. Má hõm xuống, râu mọc dài ra. Mặt nám đen vì khói bom, đạn. ở bưng, địch lại cho trực thăng bay thăm dò, đánh hơi lực lượng chúng tôi. Anh em khi rút ra bưng, do quá mệt mỏi, đã mất cảnh giác lúc tắm giặt cũng như nghỉ để lộ mục tiêu, nên bị chúng gọi pháo bắn và ném lựu đạn từ trực thăng xuống, thêm nhiều đồng chí hy sinh và bị thương.


Tôi nhớ một kỷ niệm. Sau khi rút ra bưng, hôm sau, khoảng 8 giờ sáng, mấy anh em đang ngồi dưới một vòm cây thấp và kín lấy bài ra để đánh. Bỗng một chiếc UTiTi (loại trực thăng trinh sát nhỏ, cơ động) bay sát ngọn cây, lao đến. Chúng tôi liếc nhìn thấy mặt một thằng Mỹ đỏ gay, ngồi ngay cạnh cửa trái chiếc trực thăng. Phát hiện thấy chúng tôi, nó lập tức nghiêng cánh đảo lại và ném một trái lựu đạn xuống ngay chỗ chúng tôi đang ngồi. Lựu đạn nổ. Lửa lân tinh bắn ra khắp nơi. Mấy người, trong đó có Nguyễn Văn Động (Kinh Môn, Hải Hưng) bị lửa lân tinh bắn vào mặt. Chúng tôi nhào xuống hầm. Nước dâng lên tới cằm. Không hiểu sao riêng tôi không bị dính lân tinh. Tôi dùng bùn đắp lên mặt cho Động nhưng khói vẫn cứ bốc lên. Động kêu rát vì lửa lân tinh không tắt bởi bùn và nước. Làm cách nào cũng không dập được lửa trên mặt Động. Trên gò má Động, vệt cháy do lân tinh cứ loang rộng ra, bốc khói khét lẹt. Tôi chợt nghĩ đến bài học hồi huấn luyện tân binh. Nếu bị lửa lân tinh thì chỉ có thể dập bằng cacbonic. Hồi đó trước khi đi B, chúng tôi đều được trang bị mỗi người trên chục ống cacbonic lỏng. Nhưng vì đánh nhau nên đã mất hết. Tôi bèn bảo mọi người đái vào khăn rồi đắp lên chỗ đang cháy. Quả nhiên, một lúc sau khi đắp nước tiểu, lửa đã được dập tắt. Rất may, hôm đó chúng ném lựu đạn lân tinh. Nếu lựu đạn mảnh thì chắc chắn chúng tôi sẽ thương vong. Mấy khẩu AK dựng gần đấy, bén lửa, bốc khói, âm ỉ cháy. Khi chúng tôi lên khỏi hầm mới phát hiện được và tìm cách dập tắt. Có khẩu, phần báng cháy mất khá nhiều. Thật hú vía!


Đêm hôm sau, chúng tôi được bổ sung thêm quân. Quân bổ sung lúc này rất nhỏ giọt. Chúng tôi nhận tân binh từ Ba Thu xuống. Họ là những cậu lính trẻ măng 17,18 tuổi của các tỉnh từ Hà Nam Ninh trở ra. Mỗi đaị đội giỏi lắm cũng chỉ được 6-7 đồng chí. Do ban đêm nên chỉ nghe được giọng nói và biết tên vậy thôi chứ không nhìn rõ mặt. Sau đó, nhận lệnh rồi vào vị trí chiếm lĩnh trận địa để chuẩn bị công sự chiến đấu ngày mai. Nhiều đồng chí 7- 8 giờ sáng hôm sau đã hy sinh ngay ở loạt đạn đầu. Đến nỗi, chúng tôi không hề biết mặt mũi họ như thế nào nữa! Chỉ lập danh sách hy sinh rồi gửi lên cấp trên để báo cáo mà thôi…(Bổ sung đợt ấy có Bùi Mạnh Sinh, quê ở khu Vạn Hương thị xã Đồ Sơn, Hải Phòng. Sau giải phóng Sinh vẫn còn, nhưng năm 1979 đã hy sinh ở biên giới Tây nam. Hài cốt đã được quy tập về nghĩa trang thị xã Đồ Sơn. Năm 2004, trong một chuyến công tác tại Hải Phòng, tôi đã đến viếng và thắp hương cho anh tại nghĩa trang này. Tôi vẫn giữ được bức di ảnh của Sinh hồi năm 1972 lúc mới về đơn vị. Tôi đã gửi tặng lại cho gia đình anh…).


Chúng tôi được lệnh trở lại Tân Phú để tiếp tục chống càn.


Lần này, đơn vị chiếm lĩnh trận địa ở hướng tây nam.


Công sự chiến đấu của chúng tôi hình chữ Z. Một người cửa trước, một người cửa sau. Khi pháo binh hoặc không quân địch phản kích thì chui xuống công sự. Nếu địch lọt vào như hôm ở vườn nhà má Tám thì tổ chức tác chiến ngay. Dưới hầm, có sẵn một can nước 5 lít để uống cả ngày. Cơm trưa, anh nuôi nắm từ sáng mang theo khi vào trận (bấy giờ không có lương khô).


Tám giờ sáng, cái công thức bom pháo bắt đầu được lặp lại. Chúng tôi ngồi chịu trận như thế cả tiếng đồng hồ. Ai may mắn thì thoát, không may thì hy sinh hoặc bị thương. Nhiều trái pháo nổ cách công sự vài ba mét làm rung chuyển cả hầm. Tiếng rít, tiếng nổ chát chúa, lộng óc. Sau trận mưa bom pháo ấy, bộ binh địch lại mò vào. Ta nổ súng, đánh bật ra. Chúng lại tiếp tục bom, pháo và trực thăng phóng hoả tiễn. Cứ như vậy chúng tôi gồng mình lên đội bom pháo cả ngày hôm đó. Hình như kẻ địch không có chủ trương chiếm lại đất mà chủ yếu thăm dò, phát hiện lực lượng ta rồi dùng hoả lực huỷ diệt. Hôm ấy đồng chí Thiên, cán bộ tiểu đoàn 9 hy sinh.


Những trận mưa đầu mùa năm 1972 đã bắt đầu trút xuống. Chúng tôi phải lặn ngụp trong công sự nước lên tới cằm. Pháo bắn gần, có công sự bị sập. Anh em bị thương không có chỗ trú ẩn. Do vậy, đa phần số này đều hy sinh sau đó không lâu vì bị nhiễm trùng. Chúng tôi không đủ sức cầm cự nữa. Nhưng lệnh của trung đoàn là phải bám trụ để chia lửa cho các chiến trường khác, nhất là ở Quảng Trị. Nơi chúng tôi tác chiến, cách Sài Gòn khoảng 25 dặm bay, nên dù thế nào địch cũng quyết không để ta đứng chân ở đó được. Bằng mọi giá, chúng phải đẩy bật ta ra khỏi địa bàn. Nên việc ưu tiên bom pháo cho chiến trường này là một bức thiết của Mỹ- nguỵ. Sau này, chúng tôi mới hiểu ý đồ chiến thuật của cấp trên là “tất cả cho chiến dịch” nên dù phải hy sinh đến người cuối cùng cũng phải bám trụ.


Còn nữa…

Loading...

TIN LIÊN QUAN