Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Tin liên quan:


“Ký ức Chiến tranh” phần III (1)


 


      Tôi có một kỷ niệm vui khi đến binh trạm 3 “Giải Phóng”. Hôm ấy, trước khi vào chỗ nghỉ, phải lội qua một con suối nhỏ, nước cạn. Ngay trên đầu chúng tôi có một tổ ong mật to như cái áo tơi, lủng lẳng treo trên một cành cây. Các đơn vị khác đi qua đều thấy, nhưng không ai dám đụng vào. Tôi nghĩ bụng: “Nhất định phải ném cho đứt đôi tổ ong này để lấy mật”(tôi vốn hiếu động và hay nghịch ngợm từ bé). Sau khi mắc màn xong, tôi bàn với Đính, cả hai quyết định đến phá tổ ong! Tôi thủ mấy hòn đá bằng nắm tay, chọn vị trí thích hợp rồi thẳng tay, liên tục ném hết những hòn đá ấy vào tổ ong. Một phần ba tổ ong đứt, rơi xuống. Đàn ong từ đó bay ra. Hoảng quá, tôi hét Đính chạy như bay về chỗ nằm chui ngay vào màn ngồi. Đàn ong đuổi theo nhưng không kịp, cứ bay rào rào quanh màn. Chúng bèn xông vào đốt túi bụi số anh em chưa mắc kịp màn. Cả đại đội chạy táo tác tìm chỗ núp tránh đàn ong quái ác ấy. Cũng may, lúc ấy trời đã nhá nhem, rồi tối rất nhanh (vì ở rừng). Đàn ong rút lui. Một số anh em bị ong đốt sưng vù mặt mày, có người yếu sức đã phát sốt lên. Lần ấy, tôi và Đính bị đại đội họp kiểm điểm và kỷ luật cảnh cáo. Lẽ ra sau đợt hành quân, tôi được chi bộ cho học đối tượng Đảng nhưng vì lý do ấy nên phải đình hoãn lại đợt sau.


Như vậy, từ các binh trạm của đường dây “Giải Phóng” (cũng vẫn là đường mòn Hồ Chí Minh) trở đi, đời sống vật chất của bộ đội được cải thiện đáng kể. Chúng tôi đã có thực phẩm tươi bổ sung khá đều đặn. Tôi nhớ khi vào binh trạm của đường dây này, chúng tôi được phát mỗi người ba hộp sữa. Đã lâu không được ăn đường, sữa nên thèm quá. Tôi và nhiều anh em uống hết một lúc cả hai hộp. Chỉ cần chọc mũi dao găm vào nắp hộp, lách một đường rồi bật nắp, ngửa cổ một lúc là hết sạch. Lần ấy, sau khi uống xong, tôi bị khản đặc cả cổ và mất tiếng vì sữa ngọt và uống nhiều quá. Phải mất mấy hôm mới trở lại bình thường. Đi sâu vào Hạ Lào, giáp giới với Campuchia, rừng chỉ còn lúp xúp, thoai thoải. ở đây những cánh rừng khộp được khai thác để lấy dầu. Cây khộp được đục một lỗ lớn ở gốc, sát mặt đất, có thể cho gáo vào múc được. Dầu ở trong thân cây chảy ra, đọng lại đó. Người ta chỉ việc cho gáo vào múc. Ngoài việc xuất khẩu và sử dụng trong công nghiệp, dầu khộp còn dùng để thắp sáng, đun nấu ít khói và rất đượm lửa…


Không nhớ rõ chúng tôi đã đi biết bao ngày đường giữa bạt ngàn rừng khộp. Các đồng chí giao liên kể lại: Vùng này, sau trận càn Chen La II (tìm diệt) năm 1970, của Mỹ – nguỵ, bộ đội ta phải chạy dạt lên đây, trú ẩn. Xe tăng của quân nguỵ Sài Gòn hồi đó càn lên. Họ không cầm nổi B40, B41 để bắn nữa, vì đói quá. Rất nhiều đồng chí bị chiến xa địch cán nát dưới xích. Cú đánh bồi ấy đã làm chúng ta tổn thất rất lớn…Trên đầu chúng tôi vẫn vè vè tiếng OV10 và L19. Đâu đó, ở phía Đông, tiếng đại bác vẫn ùng… oàng… dội lại rồi có tiếng gào rít của chiến đấu cơ và tiếng bom. Phía ấy, chắc bộ đội ta đang chống càn…


Vượt sông Xê San, chúng tôi tới binh trạm ở ngã ba biên giới. Đây là nơi tiếp giáp của ba nước Việt, Lào, Campuchia. Có một câu nói rất hay: “Một tiếng gà gáy, cả ba nước đều nghe”. Nước con sông Tà Ngâu trong vắt. Hai năm sau, năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết không lâu, nhà thơ Tố Hữu trong một chuyến công tác, đã qua đây. Sau đó ông trở ra Bắc rồi viết bài thơ “Nước non ngàn dặm” nổi tiếng. Thi phẩm có đoạn nói về nơi này:


Tà Ngâu trong vắt mắt gương


Xốn xang trong lửa chiến trường mà cay


Xê San tan nát đạn cày


Trống trơ rừng khộp, khô gầy rừng le


Bằng lăng bạc nắng trưa hè


Nghe như cưa xé, tiếng ve rít dài


Cỏ vàng lạc bước hươu nai


Sóc, buôn thấp thoáng bóng xoài đung đưa


Vườn ai cháy trụi ngọn dừa


Mái chùa cong, gẫy nét xưa diệu huyền…


Kế hoạch của đoàn chúng tôi là tập kết tại một khu rừng phía Tây của tỉnh Tây Ninh. Nơi đây thường gọi là cứ “Chính phủ”. Để đến được nơi này, phải hành quân qua đất Campuchia, thuộc địa phận của tỉnh Côngpôngchàm. Tiếp xúc với dân Campuchia, ngôn ngữ bất đồng nên có nhiều kỷ niệm buồn cười lắm. Chúng tôi đi qua một số phum, sóc (làng, xóm, ấp) khi khát nước, chẳng biết nói thế nào để xin cả. Gặp mấy người lính hậu cần của R. (Bộ Tư lệnh Miền) thuộc phân khu 23, sống ở đất bạn đã lâu, lẽ ra khi xin nước thì nói: “Oi khơ nhum xum tức phấc” (Cho tôi xin nước uống) hoặc “Ôn ơi, miên tức tê, oi boòng xum…” (Em ơi, có nước uống cho anh xin) thì họ lại bày cho “Ôn ơi! Miên xờ lanh boòng tê?”. Chẳng hiểu sao khi mình xin nước uống thì các cô gái đỏ mặt lên, cười rồi bỏ chạy vào nhà trốn biệt (!?) Thì ra, chúng tôi đã mắc lỡm cánh lính cũ. “Ôn, miên xơ lanh boòng tê” nghĩa là: “Em có yêu anh không? “. Xin nước mà hỏi “Em có yêu anh không” chắc chắn cô gái nào cũng phải đỏ mặt, bỏ chạy (!?) Một chuyện khác: Cũng xin nước, nhưng nói mãi mà họ không hiểu, bộ đội ta quay lại nói với nhau “thật tức chết đi được”. Không ngờ, thấy ông già gật đầu “ờ. ờ…” rồi lặng lẽ vào trong nhà khệ nệ bưng ra một ấm nước cùng một nải chuối to cho chúng tôi. Thì ra ông đoán chúng tôi xin nước và chuối nên bèn bưng ra mời. Sau này chúng tôi hiểu và nói sõi tiếng Miên, nhớ lại, cười chảy nước mắt. Trong câu nói ấy có hai từ: “tức” và “chết”. Tiếng Campuchia “tức” là nước và “chêếch” là chuối. Do vậy, hôm đó, chúng tôi mới được ăn chuối và uống nước. Một câu cáu gắt do bực mình, xem ra lại có hiệu quả và được việc!


Tình cảm của nhân dân nước bạn đối với chúng tôi thật đáng quý. Mặc dù ngôn ngữ bất đồng nhưng thực sự họ rất quý mến và kính phục chúng tôi. Bởi chúng tôi là những người lính cách mạng, có văn hoá; là “Bộ đội Cụ Hồ” được học tập, rèn luyện, thử thách nên có ý thức tự giác chấp hành nghiêm chỉnh chính sách quốc tế của Đảng và kỷ luật quân đội khi sang nước bạn. Chúng tôi đi qua nhiều thị trấn, thị tứ như Tà Xăng, Tà Nốt, Ô Răng Âu… Lần đầu tiên, chúng tôi nhìn thấy cây thốt nốt. Đó là một loại cây đặc sản của nước bạn. Thoạt nhìn, nó giống cây cọ Phú Thọ nhưng lá nhỏ, dày, các cạnh sắc nhọn hơn. Vào mùa này, người dân bắt đầu khai thác mật. Đơn giản, họ bắc những cây tre dài, để nguyên các cành hai bên thân tre để làm bậc leo. Trên ngọn thốt nốt là những cuống trái như cuống dừa. Cách khai thác: cắt ngang cái cuống ấy rồi hứng vào đó một ống bương đã xông khói. Sáng mai, trèo lên dỡ xuống là có đầy một ống nước ngọt. Mỗi cây như vậy treo từ 7 đến trên 10 ống (tương đương 10-12 lít mỗi cây một đêm) Sau đó, họ chỉ cần cho vào chảo gang, nấu cạn đi là sẽ thành đường. Đường thốt nốt ngọt, thơm, hàm lượng xaccaro cao. Có những vùng, cây thốt nốt nhiều như cọ ở Phú Thọ.


Chúng tôi dừng chân trên một bến của con sông Mê Kông hùng vỹ. Bốn giờ chiều, tất cả bộ đội xuống tàu. Từ đây phải xuôi dòng Mê Kông hơn 120 km đường sông nữa mới tới địa điểm tập kết để hành quân sang đất Tây Ninh. Chúng tôi đi qua địa phận của các tỉnh Côngpôngchàm, Prâyveng và Xvâyriêng (đông bắc Campuchia). Sông Mê Kông đoạn này trở đi rộng trên 3 km, nước chảy không xiết. Có thể nói chưa bao giờ và chưa ở đâu cá lại nhiều như ở sông Mê Kông!? Loại cá gì không rõ, từng đàn lớn nổi đầu lên như đầu nghé con, hụp lặn trên sông. Tàu đang đi bỗng nghe “khục” một tiếng, quay lại nhìn, một con cá to như tàu lá chuối loại vừa, nổi lên phía sau. Thì ra con cá kia bị chân vịt của tàu quay, va vỡ đầu, nổi lên. Chẳng ai vớt cả. Bến sông mà chúng tôi dừng lại hồi chiều để xuống tàu thuộc thị trấn Crachiê (bộ đội ta thường gọi là Cần Ché), cá rẻ ơi là rẻ! Chỉ cần 3 rieal (ria – tên gọi đồng tiền Campuchia) là ngư dân không ngần ngại cho rổ vào khoang xúc đầy, trao cho bộ đội, chừng 12 đến 15 kí cá (3 rieal tương đương với 3 đồng tiền miền Bắc lúc ấy).


Khoảng 2 giờ sáng, đơn vị đổ bộ lên tả ngạn con sông. Chúng tôi nhanh chóng ổn định đội hình hành quân, kịp tập kết vào trạm “Rừng Tre” (gọi là “Rừng Tre” vì trạm này toàn tre, không một loại cây nào xen lẫn). Ở đây, vừa trải qua một trận B52 rải thảm. Hố bom dày đặc nham nhở, mùi thuốc bom còn phảng phất đâu đây. Xen lẫn trong gió thoang thoảng mùi tanh của xác chết. Chúng tôi cứ nghĩ có lẽ là mùi của chim chóc hay chồn cáo bị chết. (trời tối, nào có thấy gì!?) Lúc này, cũng đã gần 4 giờ sáng, anh nuôi tranh thủ đào bếp “Hoàng Cầm” chuẩn bị cơm sáng và cơm nắm buổi trưa cho bộ đội. Nơi đây, ban ngày không thể nấu cơm và hành quân được mà phải ém lại trong rừng tre. Tối đến mới có thể lên đường, vì lũ trinh sát L19, OV10 và trực thăng quần đảo suốt ngày. Biệt kích, thám báo rất nhiều. Có khi chúng cũng mang AK, áo quần Tô Châu, “dép râu” (cách gọi của người Nam Bộ, chỉ dép cao su bốn quai do Trung Quốc trang bị cho bộ đội ta) và đội mũ tai bèo như chúng tôi. Hễ phát hiện ra chỗ trú quân của ta, là chỉ ít phút sau, pháo từ các căn cứ ở Tây Ninh như Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu, Củ Chi, Sa Mát, Thiện Ngôn hay tiểu khu Tây Ninh rót tới. Sau đó là trực thăng vũ trang từng đàn bay đến xả rốc két và đạn 20 li như vãi trấu xuống chỗ trú quân; tiếp theo là chiến đấu cơ dội bom. Không lâu sau là B52 rải thảm. Đó là cái công thức mà Mỹ – nguỵ áp dụng cho vùng chiến thuật này. Còn nếu phát hiện thấy quân ta ít thì chúng cho trực thăng đổ chụp, càn quét, tiêu diệt rồi bắt sống những người còn lại.


Khoảng 5 giờ 30 sáng, tất cả phải ăn xong, thu dọn, nguỵ trang kín đáo và chuẩn bị đào công sự trú ẩn dã chiến. Bên cạnh bụi tre nơi chúng tôi trú quân, một hố bom lớn, nước đục nhờ. Tôi và Đính chuẩn bị múc nước đánh răng thì bỗng Đính giật mình, níu lấy vai tôi chỉ ra giữa hố bom. Xác một người mang quân phục màu cỏ úa nổi lên. Người này tóc rất dài. Chúng tôi nghĩ đó có thể là một cô gái giao liên, vì bộ đội không ai để tóc dài như vậy cả. Tôi chợt thấy gai gai và rùng mình. Đêm qua, chúng tôi đã múc nước ở hố bom ấy nấu cơm và nước uống!


Đơn vị cho vớt cái xác lên. Đúng là một cô gái. Một chân cô ta đã bị bom cắt cụt đến gần bẹn. Thịt bắt đầu rữa ra. Chúng tôi liệm cô trong tấm tăng nilon rồi mai táng trên gò đất cao, bên cạnh một bụi tre lớn. Có lẽ cô là giao liên. Đồng đội chắc đã tìm kiếm rất kỹ nhưng do bom hất chìm xuống hố nên đành ngậm ngùi để cô nằm lại nơi đây. Chẳng có nhang thắp, chúng tôi cố tìm vài bông hoa dại cắm lên phần mộ cô như lời an ủi cuối cùng của những đồng đội với người liệt sỹ chưa biết tên ấy…


Đêm hôm sau, chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Địa điểm tập kết là khu rừng mạn tây tỉnh Tây Ninh. Gọi là cứ “Chính phủ”. Nơi đây, là thượng nguồn con sông Vàm Cỏ Đông. Anh bạn đồng hương tôi (quê Tiến Lộc, Can Lộc) khi vượt qua đoạn này không may bị chết đuối. Đến đây, bất ngờ, tôi bị sốt rét quật đổ khi đang đào công sự cho người và pháo. Cơn sốt ập đến xồng xộc. Hình như bao nhiêu vất vả, gian khổ, cơ cực dồn nén bấy lâu nay trào lên nhận chìm tôi trong những cơn sốt kinh hoàng. Nhiệt độ cơ thể lên tới 41độ C, người mê man không còn biết gì nữa. Có thể nói tôi là một trong số ít ỏi những người sót lại đến lúc này mới sốt. Bây giờ thì tôi mới cảm nhận được thế nào là sốt rét. Không có ngôn từ nào để tả hết cái cảm giác mệt kinh người của căn bệnh quái ác đó. Cứ thấy cơm, hoặc ngửi thấy mùi thịt, cá, mùi canh nêm mì chính bay lên thì ôi thôi, không thể nào chịu nổi nữa. Nó nôn mửa đến giọt nước cuối cùng trong dạ dày. Tôi mệt đến bã cả người. Chẳng thể ăn uống được bất cứ một thứ gì ngoài ước muốn duy nhất là thèm được ăn quả cam, chanh hay quả khế (đào đâu ra loại này ở đây!). Tôi nhớ lại một giấc mơ lạ kỳ lúc ấy: Trong mơ, tôi thấy cha tôi đến thăm, ông gánh một gánh cam chín vàng. Tôi nhào tới, không kịp chào cha, vội cầm ngay một quả rồi cho vào mồm cắn nghiến ngấu. Ngon ơi là ngon! Có lẽ trong đời tôi từ đó về trước cũng như sau này chưa có lúc nào được ăn thứ gì ngon đến thế. Ăn xong, tôi mới hỏi: “Cha đi đường nào mà vào được nơi này?” Ông bảo: “Cha đi theo tàu hải quân vào Cà Mau rồi bí mật đổ bộ lên bờ, sau đó, theo đường giao liên lên đây”. Tôi thấy cha tôi gầy yếu lắm. Ông ôm lấy tôi (ông chỉ còn một tay vì năm 1951, trong trận chống càn ở Thanh Lam Bồ, Quảng Bình, ông bị thương vào đầu, ngực và cụt mất 2/3 cánh tay phải). Cả hai cha con cùng khóc. Giấc mơ ấy đã khắc sâu vào ký ức. Mỗi lần nhớ về những năm tháng trận mạc, giấc mơ đó cứ hiện hữu trong tôi. Sau này, khi biết có một con đường Hồ Chí Minh trên biển Đông, tôi mới ngạc nhiên về giấc mơ ấy. Hình như lúc ấy, tôi linh cảm được rằng đã có một con đường bí mật trên biển như vậy. Thật khó giải thích!?


Trạng thái sốt rét như sau (trường hợp sốt cấp tính): Đau đầu dữ dội, sốt cao, cơ thể nóng hầm hập, nhiệt độ lên tới 40, 41 độ, nhưng trong người rét như cắt. Đắp 3-4 cái chăn vẫn run cầm cập. Phải có 2 đến 3 người đè lên hoặc ôm chặt lại, nếu không, run đến sập cả lán. Dứt cơn, mồ hôi vã ra như tắm, cơ thể như vừa bị cho vào cối giã. Thấy cơm hoặc thức ăn là khiếp sợ. Tôi sốt liên tục đến 2 tuần, nhiệt độ cơ thể không giảm. Tôi cảm giác như cơ thể bị hơ trên lửa. Tuy vậy, khi đơn vị hành quân cũng phải lẽo đẽo theo (lúc này trên mình chỉ còn lại độc chiếc ba lô mà thôi). Rừng Tây Ninh vùng này, cây chỉ cao độ 3 đến 4 mét. Mùa khô, cát bụi bay mù mịt, hành quân trên những con đường mòn ấy đều phải xoá dấu vết. Chúng tôi đi dép râu. Dấu dép sẽ là mục tiêu cho thám báo hoặc loại trực thăng cán gáo UTiTi bay sát ngọn cây. Không xoá dấu dép, chúng sẽ biết “Việt Cộng” đang ở đâu. Nếu bất cẩn, bị lộ thì cái công thức pháo bầy, B52 của Mỹ sẽ “tiếp đãi” chúng tôi hết sức “hậu hĩ”. Bởi vậy, nhiệm vụ của người đi sau cùng đội hình là dùng một cành cây lớn kéo lê trên mặt đất để xoá hết dấu dép của bộ đội…


Đóng quân trong rừng về mùa khô, nước ăn uống và sinh hoạt vô cùng khan hiếm. Giếng ở đây sâu từ 15 đến 18 mét. Tuy vậy, nước rất ít. Đặc biệt dưới đáy giếng có một lớp lá mục dày trên nửa mét. Đó là lá cây rụng xuống hàng năm do chất độc hoá học của Mỹ rải xuống để khai quang. Về mùa khô, thả gàu xuống thật lâu mới chắt được chừng một phần ba gàu nước đen như hắc ín để nấu cơm và nước uống. Nấu cơm, cơm nhuộm một màu đen. Có lẽ do chúng tôi ăn uống phải thứ nước ấy nhiều nên giờ đây, thế hệ con cái của nhiều người trong chúng tôi đã bị nhiễm thứ chất độc quái ác ấy (dioxin – chất độc màu da cam). 


địa bàn này, hành quân di chuyển, nấu nướng, phơi phóng đều phải hết sức bí mật và cẩn trọng. Bởi vì chỉ một sơ suất nhỏ là có thể bị ăn bom B52 một cách dễ dàng.


Tuy vậy, cuối cùng, chúng tôi vẫn không thoát khỏi toạ độ lửa của B52.


 


Bấy giờ là vào cuối tháng 2/1972.


loading...

Hôm ấy, một đêm hạ tuần. Trước đó khoảng hơn một giờ, đơn vị nhận được điện báo của trung đoàn: “Đài kỹ thuật và tin tình báo của ta cho hay là B52 sẽ đánh vào chỗ trú quân của trung đoàn. Các đơn vị lập tức cho bộ đội rời ngay vị trí đóng quân!”. Nhận được lệnh, chúng tôi nhanh chóng thu xếp ba lô súng đạn. Những gì không cần thiết thì bỏ lại, miễn sao rút thật nhanh ra khỏi toạ độ lửa. Hôm ấy, theo lệnh, dẫn đầu là các đơn vị trực thuộc, tiếp theo là tiểu đoàn 8, tiểu đoàn 9, sau cùng là tiểu đoàn 7. Chúng tôi rồng rắn, rút nhanh khỏi vị trí. Các đơn vị trực thuộc và các tiểu đoàn 8, 9 đã ra khỏi toạ độ B52. Chỉ còn Tiểu đoàn 7 vừa quàng ba lô lên vai, chưa kịp bước thì mưa bom đã trút xuống. Biển lửa trùm lên toàn bộ đội hình tiểu đoàn với những dây chớp nhì nhằng, loá mắt và tiếng nổ chói tai, lộng óc liên tục trong gần 10 phút đồng hồ. Kẻ địch tàn bạo đã dùng cả phi vụ ấy chỉ với hai loại vũ khí giết người hàng loạt là bom bi và bom khai quang (sát thương). Chúng tôi, không ai nói một lời nhưng đều hiểu. Thế là hết! Nỗi đớn đau và căm thù trào lên, tắc nghẹn. Cả đội hình hành quân và không gian sau phi vụ B52 kinh hoàng ấy lặng  im đến nghẹt thở. Trăng hạ tuần vàng vọt nhô lên trên rặng cây xơ xác phía đồng đội tôi vừa bị trận mưa bom dữ dội ấy. Đó là đêm 22/ 02/1972.


Trung đoàn lệnh cho các tiểu đoàn 8,9 cử ở các đại đội những đồng chí khoẻ mạnh quay trở lại vị trí của tiểu đoàn 7 để làm công tác tử sỹ và tìm kiếm trong bãi hoang tàn ấy may ra còn có ai sống sót, bị thương. Hỡi ôi! Cả một vùng rải thảm ấy còn gì nữa đâu! Đất đá, cây cối, lẫn với xác người ngổn ngang! Làm sao còn ai có thể sống sót nổi dưới trận mưa bom bi và bom sát thương hàng trăm tấn ấy, khi đang phơi mình trên mặt đất! Ước tính có hàng vạn quả bom bi và hàng trăm quả bom khai quang trùm lên trên một diện tích chưa đầy1 kilômét vuông! Lệnh của trung đoàn phải nhanh chóng thu dọn chiến trường và rút nhanh vì B52 có thể tái oanh kích bất kỳ lúc nào sau đó.


Công tác giải quyết thương binh, tử sỹ được tiến hành hết sức khẩn trương. Tuy nhiên, do cây cối và đất đá ngổn ngang nên không thể nào thu nhặt hết được. Tiểu đoàn 7 coi như bị xoá sổ. Hy sinh và bị thương gần hết…


 Cảm động và thương tâm là cảnh những anh em cấp phó (từ tiểu đội phó đến tiểu đoàn phó) cùng quản lý các đại đội đến tiểu đoàn. Đây là những người may mắn thoát chết vì đang ở Campuchia làm nhiệm vụ lấy lương thực, thực phẩm cho đơn vị. Họ mang thịt heo lẽo đẽo theo chúng tôi. Thịt khô đi lúc nào không biết. Họ đi như người mất hồn vì không còn đơn vị để trở về nữa! Ai cũng khóc thương đồng đội sưng vù cả mắt. Tổn thất quá lớn cho trung đoàn chúng tôi trong khi trung đoàn mới vào đến chiến trường, đang chân ướt, chân ráo, chưa kịp tham gia bất cứ một trận đánh nào!


Một tổn thất thứ hai về tinh thần nữa, đó là việc đồng chí Trung đoàn trưởng Lê Ổn (quê Quảng Bình) trong một chuyến điều nghiên tại Sa Mát (Tây Ninh) đêm đang đi, bị “pháo đĩ” bắn bị thương, cụt tay (“pháo đĩ” là loại đạn pháo rơi lạc toạ độ, do lũ gái điếm, sau khi hành lạc cùng bọn lính, rồi đú đởn xin nạp đạn vào súng bắn thử cho vui. Đạn đi không có tầm, có hướng, nên rơi lung tung. Bộ đội ta, đêm hành quân hoặc điều nghiên, bị thương vong do loại pháo này nhiều là vì vậy). Đồng chí phải từ biệt đơn vị, đi viện, rồi sau đó trở ra Bắc. Người chỉ huy trung đoàn đầy năng lực và uy tín ấy cũng đành phải giã từ chiến sỹ thân yêu của mình khi mới chân ướt chân ráo vào đến chiến trường.


Quả là trong chiến tranh, mọi điều có thể xảy ra!


Như vậy, xét ở thời điểm hiện tại và phạm vi cục bộ, tạm thời trung đoàn chúng tôi bị thất bại. Mặc dù sau này, đơn vị phát động phong trào biến căm thù thành hành động, quyết tâm trả thù cho tiểu đoàn 7 (đơn vị tái lập), các đơn vị đã lập công xuất sắc trên các mặt trận. Đặc biệt, chính tiểu đoàn 7 đã nhiều lần làm cho kẻ địch kinh hồn, bạt vía. Đến nỗi, khi giao chiến hễ nghe tiếng tiểu đoàn 7 của 271 là chúng đã tháo chạy. Tuy nhiên, những tổn thất, hy sinh trong trận B52 rải thảm vừa qua đã một khoảng trống mất mát to lớn, không có gì bù đắp nổi!


Tiểu đoàn 7, sau đó được tái lập trên cơ sở một số các đồng chí còn lại và điều từ các tiểu đoàn khác về, thành lập khung cán bộ (từ tiểu đội đến tiểu đoàn), đồng thời, xin quân bổ sung kịp tham gia chiến dịch.


Dù sao, đây cũng là một cú “sốc” tinh thần quá lớn. Một khoảng trống không thể bù đắp. Một tổn thất quá nặng nề đối với cán bộ, chiến sỹ chúng tôi trước khi vào chiến dịch “Nguyễn Huệ”, “Mùa hè đỏ lửa” 1972…


Tôi không còn đủ sức để theo kịp đơn vị nữa. Thể lực đã suy kiệt hoàn toàn. Lúc này cơ thể gần như chỉ còn lại một bộ xương không hơn không kém. Đầu óc mơ màng như đang đi trên mây và mất thăng bằng như ở trạng thái không trọng lượng. Tôi gục ngã sau khi đã dồn hết tất cả sức lực còn lại để cố gắng bám theo đơn vị. Tôi sốt mê man, cơ thể nóng hầm hập. Quy nin Trung Quốc (thuốc sốt rét dạng viên nén) mỗi ngày 4 viên rồi tăng lên 6 viên. Quy nin tiêm ngày 2 gam rồi lên 3 gam (4- 6 ống) Trong khi đó thì thuốc trợ lực như B1, C… thì đã cạn kiệt và thật khan hiếm bởi số người bị sốt nhiều quá. Phải dành tiêm cho họ. Đến lượt chúng tôi, chẳng còn nữa. Thuốc bổ sung thì chưa có. Tôi vốn đã yếu về thể lực nay càng suy kiệt hơn; hồng cầu còn chưa đầy 2 triệu. Thuốc vào nhiều quá nên tai ù đặc, mắt hoa lên, bước không được nữa. Thân thể tiều tuỵ và suy sụp. Đơn vị đành phải gửi tôi về cứ (hậu cứ) của trung đoàn, nơi có bệnh xá để điều trị. Phải mất gần ba tuần, tôi mới cắt cơn. Căn bệnh này kỳ lạ lắm. Hễ cắt sốt là ăn khoẻ ngay. Ngược lại, đang ăn bình thường, tự nhiên thấy thèm ăn và ăn nhiều là chỉ vài ngày sau lại lên cơn sốt. Có người đang khỏe, nói như đùa: “Tớ ngày mai sẽ sốt”. Vậy là đúng ngày mai cậu ta sốt thật; sốt li bì, bỏ cơm, trùm 3-4 cái chăn vẫn không chịu nổi… Tôi và một số anh em khác được chuyển sang chế độ an dưỡng để chuẩn bị trở về đơn vị chiến đấu.


Vào tháng ba này là Tết cổ truyền Chon Thơ Năm Thơ Mây của Campuchia. Chúng tôi gặp dịp được ăn Tết với họ và nhân dịp may duy nhất này để có cơ hội hiểu thêm về những đặc trưng, những phong tục ăn Tết của người dân Campuchia. Họ có nhiều trò chơi dân gian như chơi đu, đua thuyền… Đặc biệt là tục buộc chỉ cổ tay và té nước. Bộ đội chúng tôi là những người được các cô gái buộc chỉ cổ tay và té nước nhiều nhất. Họ tìm mọi cách để té thật nhiều nước vào chúng tôi. Người Campuchia quan niệm ngày Tết ai được té nước nhiều là người đó may mắn cả năm. Chúng tôi hiểu ngoài quan niệm ấy, các cô còn muốn dành tình cảm đặc biệt cho bộ đội. Bởi theo họ, bộ đội Việt Nam có văn hoá, rất lịch sự trong giao tiếp, lại trắng trẻo và nhiều người khá điển trai. Đó là lý do để các cô dành nhiều tình cảm, gần gũi và yêu mến chúng tôi. Chúng tôi nhanh chóng hoà mình vào không khí của Tết cổ truyền và chiếm được cảm tình của họ. Họ rất mến khách. Thết đãi chúng tôi hết sức hậu hĩ và chân tình. Trong con mắt họ, chúng tôi như những vị khách quý. Những ngày này, nam nữ được phép gần gũi nhau để tâm tình, trò chuyện thoải mái, ít bị ràng buộc bởi những phong tục khắt khe thường nhật. Chúng tôi là những người được các cô gái quây quần trò chuyện, tìm hiểu và… gần gũi nhất. Chúng tôi cầm tay nhau cùng hát bài “Việt Nam – Campuchia xam ma khi” (Việt Nam – Campuchia đoàn kết).


Thời gian này tôi học được khá nhiều tiếng Miên (Khơme) nên sau này, khi đơn vị có dịp trở lại Campuchia, tôi giao tiếp bằng tiếng Miên với dân khá sõi. Sau Tết cổ truyền Chôn Thơ Năm Thơ Mây, chúng tôi được chuyển về đoàn thu dung của trung đoàn, chờ ngày bàn giao lại cho các đơn vị chiến đấu.


Chiều ngày18/4/1972, chúng tôi được lệnh rời đoàn thu dung để trở lại đơn vị cũ chuẩn bị bước vào chiến dịch “Nguyễn Huệ”. Hôm ấy, hai xe GMC chở chúng tôi rời hậu cứ. Sau mấy tiếng đồng hồ chạy trong rừng rồi đi qua một số phum, sóc của người Campuchia, cuối cùng đổ ra quốc lộ Một. Đây là đoạn đường nối Gò Dầu (Tây Ninh) qua Xvâyriêng (Xoài Riêng) lên Công Pông Tra Bec đến bến phà Niêc Lương để vào Phnompênh. Ban đầu xe chúng tôi đi trước, nhưng gần sáng, sau khi nghỉ giải lao, chiếc xe đi sau lại vượt lên trước. Qua thị trấn Chi Phu, một thị trấn vừa được giải phóng, cảnh người, đèn và xe tấp nập. Xe chúng tôi tiếp tục chạy về hướng đơn vị, đóng gần thị trấn Sóc Nốc. Lúc này khoảng 6 giờ sáng nhưng trời mù sương nên xe sau cách xe trước khoảng gần 100 mét mà không thấy rõ. Đang đi, bỗng một ánh chớp xanh loé lên trước mặt chúng tôi, liền đó là một tiếng nổ lộng óc. Khói, lửa trùm lên chiếc xe xấu số. Trái mìn chống tăng do bọn Lon Nol (lính nguỵ Campuchia), trước khi tháo chạy đã gài lại trên lòng đường. Bánh sau phía trái đè lên, đã gây nổ. Một phần xe phía sau bay đi. 18 trên tổng số hơn 40 người trên xe hy sinh tại chỗ. Số còn lại bị thương, bị sức ép và mất hết tinh thần. Chúng tôi đi sau nên thoát nạn. Tất cả được lệnh xuống xe, cấp cứu những người bị thương. Trung đoàn được tin, đã cử ngay một đơn vị đóng gần đó ra giải quyết hậu quả, băng bó người bị thương và mai táng những đồng chí hy sinh. Đại đội 4 chúng tôi đóng cách đó gần 4 km và nơi chiếc xe trúng mìn cách thị trấn Sóc Nốc (XVây Riêng) khoảng hơn 1km. Chúng tôi thất thểu hành quân bộ về đơn vị. Lúc này đơn vị tôi đang đóng quân ở Chùa Keo, gần Sóc Nốc giáp địa phận Tà Cao thuộc huyện Đức Huệ của tỉnh Long An.


Tôi về tới đại đội lúc khoảng gần 10 giờ sáng. Nắng nóng và oi bức vô cùng. Người đầu tiên ra đón là Đính. Cậu ta ôm chầm lấy tôi rồi kể chuyện chiến đấu trong thời gian tôi nằm viện. Suốt thời gian ấy, đơn vị đã đánh nhiều trận. Đặc biệt, đã phối hợp với Công trường 5 , 7 (Sư đoàn 5, 7) đánh giải phóng căn cứ Thiện Ngôn, Sa Mát, nơi mà Mỹ – nguỵ mệnh danh là “Vành đai thép cửa ngõ Tây bắc Sài Gòn”. Thừa thắng, trung đoàn tiến công giải phóng các cứ điểm quan trọng như Trung Liên I, Trung Liên II, Bến Cầu… Nhìn quanh, tôi thấy thiếu vắng một số gương mặt thân quen trong đại đội. Hỏi ra mới biết những anh em ấy đã hy sinh hoặc bị thương trong các trận chiến đấu vừa qua! Có thắng lợi nào lại không phải đổi bằng máu?! Tôi cúi đầu bùi ngùi tưởng nhớ, nuối tiếc và xót thương những đồng đội đã hy sinh.


Nhưng rồi, tôi cũng không có thời gian để mà buồn nữa. Đại đội nhận lệnh gấp rút bổ sung vũ khí, đạn dược để chuẩn bị xuống chiến trường. Không khí thật hối hả, khẩn trương. Hai ngày sau, chúng tôi chuyển quân đến sóc Chếêch. Đây là nơi tập kết cuối cùng để chuẩn bị xuống Ba Thu (căn cứ lớn của B2) Từ đó vượt bưng Đức Huệ qua Mỹ Thạnh Đông để vượt sông Vàm Cỏ Đông.


 Hôm ấy, hậu cần của tiểu đoàn chia cho đại đội 4 chúng tôi mấy con heo để làm thực phẩm (một số để ăn, một số làm ruốc bông, dự trữ cho chiến đấu). Mấy người, trong đó có Đính, tham gia chọc tiết. Chẳng ai ngờ trong số mấy con heo bị giết thịt kia, có một con đang chửa. Khi mổ ra mới biết. Dạ con của nó chứa 12 con. Ai cũng giật mình, không ai bảo ai nhưng mọi người đều áy náy, vì trước khi ra trận lại làm một việc ngoài ý muốn. Nhưng rồi cũng chẳng ai để ý nữa. Đính cho vào nồi 20 (loại xoong của Trung Quốc, trang bị cho bếp ăn đại đội) tất cả 12 cái bào thai ấy, đổ gạo vào nấu cháo. Có lẽ chưa có loại cháo nào béo ngậy, thơm và ngọt lừ đến như vậy! Tôi ăn không hết một bát nhỏ, đầu lắc lư vì ngậy. Người nào giỏi lắm cũng chỉ ăn được miệng “bát B52” mà thôi. Nhiều người không ăn. Vì vậy mà cả đại đội chỉ một nồi 20 (dung tích 20 lít) cháo mà ăn không hết. Đành phải nhờ gia đình người Miên ở đấy giúp đỡ.


Sóc Chêếch là một toạ độ rải thảm của B52. Trước hôm chúng tôi đến mấy ngày, một đơn vị của Công trường 5 (Sư đoàn 5) đóng ở đấy đêm đang ngủ, bất ngờ, B52 oanh kích. May thay, toàn bộ mấy trăm tấn bom rơi chệch ra bên ngoài cách chừng 200 mét. Một số ít quả lạc vào sóc, đã gây thương vong cho bộ đội, nhưng không nhiều.


Ba Thu là một căn cứ lớn, nơi tập kết hậu cần và lực lượng các đơn vị của mặt trận B2. Đặc biệt là các tỉnh như Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Long An, Kiến Tường, Kiến Phong, Mỹ Tho…Đây là vùng đệm và là căn cứ xuất phát để quân giải phóng tiến công các căn cứ địch ở bên kia sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, kênh xáng Trà Cú, kênh Nguyễn Văn Tiếp… Nơi này, năm 1968, là căn cứ xuất phát của bộ đội ta trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Bởi thế nên Ba Thu cũng là toạ độ lửa của B52, pháo bầy, trực thăng và mục tiêu càn quét của Mỹ – nguỵ. Năm 1972 do chiến trường bị căng ra, nhất là ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị nên chỗ này đỡ ác liệt hơn. Nơi đây có cánh đồng “chó ngáp” nổi tiếng. (“chó ngáp” là cách nói ví von, hình ảnh nhằm minh hoạ cho độ rộng lớn của cánh đồng bưng này. Chó vốn khoẻ và chạy nhanh, nhưng khi qua cánh đồng này cũng phải ngáp dài vì kiệt sức). Về mùa khô, nếu hành quân bộ phải mất khoảng 10 tiếng đồng hồ. Về mùa mưa phải đi xuồng, có lúc phải xuống đẩy cũng mất thời gian tương tự hoặc hơn. Những lúc không có xuồng, chúng tôi phải lội bộ từ 4 giờ chiều đến 5 giờ sáng mới tới được bờ sông Vàm Cỏ. Hành quân như vậy, lúc nghỉ giải lao, ăn cơm nắm thì đứng tại chỗ, ngâm mình trong nước, lấy gậy trụ dưới đáy bồng (một kiểu ba lô đơn giản: lấy tấm poncho của Mỹ, may lại theo kiểu bao tải, phía trên có dây thắt lại. Bên trong có túi nilon chống thấm, có quai đeo như ba lô), ăn xong lại tiếp tục lội tới sáng. Hành quân mùa mưa cực kỳ gian khổ. Nước phèn cộng với cỏ bàng (năn, lác) mục thối tạo một thứ nước đen như hắc ín, sền sệt, chua cứng họng. Chỉ cần ngậm một ngụm nhỏ là lưỡi cứng lại như ăn trái đắng. Khổ nhất là cảnh các bìu tinh hoàn của anh em mình, cứ sau một đợt lội bưng với thứ nước ấy, lớp da ngoài bìu bị lột ra từng mảng như bánh đa nem. Gỡ ra, nó rát đến tận gan ruột. Không chỉ có thế, chúng tôi còn có thêm kẻ thù đó là ghẻ lở, hắc lào. Vì suốt ngày đêm cơ thể luôn ẩm ướt, đã tạo môi trường thuận lợi cho chúng phát triển. Chúng đã góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm sức khoẻ của chúng tôi. Đêm, khi mọi người mới bắt đầu ấm chỗ nằm, chính là thời điểm chúng “tra tấn”. Suốt đêm, ai cũng gãi sồn sột đến bật cả máu mà vẫn không đã. Một kẻ thù khác: muỗi. Có thể nói chưa có ở đâu muỗi lại nhiều và dạn như  ở vùng bưng Đồng Tháp Mười này! Ban đêm thì không nói làm gì! Có thể thò tay ra ngoài màn hốt được cả nắm. Ban ngày chúng cũng xông vào đốt đen cả vùng da để lộ ra ngoài. Câu ca “Đỉa như bánh canh muỗi như sáo thổi” thật chính xác cho vùng đất này. Ở bưng, không có nước ngọt, buộc phải uống nước phèn. Để có thể uống được, phải lọc đến 7- 8 tầng than tràm. Một thứ nước nhạt thếch. Những khi không có thực phẩm, chúng tôi phải ăn bông súng chấm muối thay cơm. Nơi đây, bông súng rất nhiều. Đến mùa nở hoa, một màu tím ngan ngát, thật lãng mạn!


Chưa hết, hành quân ban đêm, nhiều lúc bất chợt bị thương vong do “pháo đĩ “. Nguy hiểm hơn là bị trực thăng soi. Nếu phát hiện ra xuồng hoặc bộ đội hành quân là chúng phóng rốckét, bắn 20 li và gọi pháo chụp ập tới (loại đại bác nổ trên không, mảnh của nó chụp xuống như hình cái nơm). Ngọn đèn pha cực mạnh, hàng nghìn oát dưới bụng trực thăng bay ở độ cao từ 100 đến 200 mét thì sáng hơn cả ban ngày và không có gì là không thấy. Chúng tôi đã nhiều phen giáp mặt bọn này, nhưng do có kinh nghiệm nguỵ trang nên thoát được. Điểm tập kết của chúng tôi là phía Tây sông Vàm Cỏ Đông thuộc địa phận Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, Long An. Nơi đây có rạch Bà Mùi, nổi tiếng về mật độ các trận phục kích của địch. Trước đó, nhiều đơn vị khi qua bị địch phục, bắn chết hết, không còn một người. Đến đây, xuồng ba lá của du kích Đức Hoà, Đức Huệ đã chờ sẵn. Hàng mấy chục chiếc thay nhau đưa bộ đội qua sông. Vàm Cỏ Đông ở đoạn này rộng chừng 200 mét, nước rất sâu. Chúng tôi là đơn vị hoả lực nên vũ khí phải mang rất nặng, nếu không cẩn thận xuồng sẽ bị lật bất cứ lúc nào. Vì lúc bơi, nước mấp mé mạn, chỉ cần chòng chành một chút là chìm ngay. Khúc sông chúng tôi vượt, gần bốt địch, nên nhất cử nhất động đều phải hết sức bí mật, im lặng. Chỉ cần vô ý nói to hoặc quẹt lửa hút thuốc, để lộ ánh sáng thì lập tức cối và pháo giập đến tức khắc. Có những khi, xuồng đang bơi, bất thần bo bo (ca nô chiến đấu) xuất hiện. Chúng quét đèn pha cực mạnh rồi xả 20 li vào những chiếc xuồng mỏng mảnh đó. Tất cả đều chìm xuống đáy sông!


Chúng tôi đổ bộ lên tả ngạn sông Vàm Cỏ Đông sau đó tiến vào vị trí tập kết. Nơi đơn vị đứng chân có tên là Gò Nổi (Giồng Nổi) thuộc xã An Ninh, huyện Đức Hoà, tỉnh Hậu Nghĩa (Long An). Gò Nổi là nơi chúng tôi làm căn cứ để từ đó xuất phát đánh các mục tiêu địch. Và sau này, năm 1974, khi trung đoàn đã chuyển quân ra mặt trận Quảng Đức, Bù Bông, nơi đây đã diễn ra một trận đánh ác liệt giữa tiểu đoàn 7 chúng tôi với quân nguỵ thuộc các tiểu đoàn bảo an của tiểu khu Hậu Nghĩa cùng đại đội thám sát 773 ác ôn và thiện chiến. Tôi sẽ kể lại trận đánh này ở phần sau…


Còn nữa…


Phần sau: “VÀO TRẬN”


 

Loading...

TIN LIÊN QUAN