Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Tin liên quan:


“Ký ức Chiến tranh”  Phần I


                              Phần II


 


 Phần III


“XẺ DỌC TRƯỜNG SƠN…”


 


       17 giờ, ngày 11/11/1971 chúng tôi được lệnh lên xe từ rừng cao su của nông trường 1/5 (Việt – Trung) tại địa phận xã Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình). Vào đầu mùa khô nhưng trời vẫn lất phất mưa và se lạnh. Đoàn xe “Gat 63”, mấy chục chiếc nối đuôi nhau lầm lũi tiến sang phía Tây. Càng đi sâu vào Trường Sơn, tiết trời càng lạnh. Chúng tôi ngồi trên ô tô rất chật nhưng vẫn phải trùm lên mình tấm poncho (tăng nilon), vậy mà hai hàm răng vẫn va vào nhau lập cập. Thỉnh thoảng, bắt gặp một vài chiếc xe đi ngược chiều trở ra, chở trên mình nó là những thương binh về từ các chiến trường. Vào sâu hơn, qua ánh đèn dù của lũ máy bay đánh đêm ở các trọng điểm, chúng tôi thấy dưới chân dốc, bên cạnh những hố bom nham nhở là những chiếc Zin “Ba cầu” hay “Giải Phóng” (xe vận tải quân sự của Liên Xô và Trung Quốc giúp ta) nằm chổng kềnh, cháy sém. Những chiếc xe đó chở gạo hoặc khí tài vào từ miền Bắc đã gặp những trận oanh kích ác liệt của không quân Mỹ. Đang đi, xe chúng tôi như bị ai nhấc lên rồi đẩy xuống. Trên thùng xe, mọi người bị xô lệch về một phía, nháo nhác, đứng cả lên; có người định nhảy xuống. Thì ra, chiếc Gat đang đi, qua ánh đèn gầm, phát hiện ra một “ổ voi” lớn, liền tránh sang phải. Không may, xe bám mép sườn dốc trơn trượt nên bị tuột nghiêng xuống, thiếu tý chút nữa thì cả xe và người đổ nhào xuống vực. Thật hú vía! Đó là kỷ niệm hành quân đầu tiên trên đường Trường Sơn.


Sau cú trượt kinh hoàng đó, chúng tôi quyết định xuống xe và hành quân bộ. Chừng 30 phút sau tất cả các xe chở quân đều quay trở ra. Một mặt, càng vào sâu trọng điểm, càng dốc và trơn trượt; mặt khác, cánh lái xe cũng sợ bị máy bay C130 và F4 (“Con ma”) bay đêm phát hiện ra. Từ đây, mở đầu cho cuộc hành quân bộ hơn ba tháng trời trên đường mòn Hồ Chí Minh.


Khoảng 3 giờ sáng, chúng tôi vượt qua một bãi lầy. Trên vai tôi là cái bàn đế cối 82 ly (15kg) cùng với ba lô quần áo, tăng, võng, thịt hộp, cá hộp, đường, sữa bột, mì chính, bao gạo 7kg, và lỉnh kỉnh quanh thắt lưng là túi mặt nạ phòng hoá, bi đông, dao găm, lựu đạn, túi thuốc cá nhân… ngót nghét 40 kg. Không rõ đi được bao lâu và đã cố gắng hết sức nhưng tôi không thể lê nổi thêm một bước chân nào nữa trên bãi lầy đó. Ngồi bệt xuống vũng bùn sền sệt, tôi kéo vội trong ba lô ra tấm poncho trùm lên người, bởi trời càng về khuya, mưa càng nặng hạt và lạnh thấu xương…


Khoảng 7 giờ sáng, đang ngủ say trên vũng bùn, tôi giật mình vì ai đó đang nắm lấy vai tôi lay và gọi lớn: “Sơn! Sơn! Dậy đi, đơn vị đi xa rồi!” Tôi hoảng hốt, mở mắt. Thì ra đó là anh Đinh Bát Chương (Thanh Yên, Thanh Chương, Nghệ An) khẩu đội phó đang quay lại tìm chúng tôi (sau này anh hy sinh trong trận tôi bị thương vào ngày 18/5/1972). Đảo mắt nhìn quanh một lượt, tôi thấy trước và sau có rất nhiều người cũng tư thế giống mình. Chương giúp vác bàn đế cối 82 và kéo tôi đứng dậy. Bước đi, tôi kịp quay lại nhìn vào chỗ mình vừa ngồi, hơi nước bốc lên lãng đãng như sương. Nhiệt từ cơ thể tôi ngấm vào bùn, lúc ấy mới toả ra…


Khoảng 9 giờ sáng, mình đầy bùn đất, tôi thất thểu vào tới binh trạm 5, binh trạm đầu tiên để từ đây, chúng tôi bắt đầu “xẻ dọc Trường Sơn”. Ngày ấy, tôi vốn là một cậu học sinh mảnh mai với cân nặng 47 kg, sức khoẻ B1 và còn thiếu ba tháng nữa mới đầy tuổi 18. Ba tháng huấn luyện tân binh chưa đủ tiềm năng thử thách để vượt qua khó khăn ban đầu.


Hai ngày nghỉ ngơi, tắm giặt, phơi phong quần áo tại binh trạm, chúng tôi đã lại sức. ở đây, hàng ngày các loại máy bay trinh sát L19, OV10, A3J vè vè trên đầu như ong suốt từ sáng đến tối, tạo nên một không khí chiến trường căng thẳng, sôi động. Nếu nấu bếp “Hoàng Cầm” không cẩn thận, chỉ cần một tia khói nhỏ bay lên để bọn trinh sát này phát hiện được thì hậu quả sẽ khôn lường. Trước tiên sẽ là các vụ không kích bằng bom, rốckét và đạn 20 li của “Thần sấm”, “Con ma” (các loại chiến đấu cơ cường kích F105, F4); không lâu sau đó, sẽ là hàng loạt phi vụ B52 rải thảm, huỷ diệt (chúng tôi đã được nghe kể và sau đó là nạn nhân trực tiếp của tình huống trên ở binh trạm 36 ).


Ngày thứ tư, anh nuôi dậy từ 4 giờ sáng để lo cơm nước cho bộ đội (ở đường dây này, không có anh nuôi cố định mà là cắt phiên nhau nấu ăn hàng ngày, mỗi ngày hai người). Bởi vậy, sau mấy tháng hành quân trên đường Trường Sơn, chúng tôi, anh nào cũng biết nấu cơm ngon, dẻo sau những thất bại ban đầu như cháy, khê, nhão nhoét…


Đúng 7 giờ, bộ đội bắt đầu xuất phát. ở rừng nên mặt trời đến muộn. Ai cũng hăm hở. Có vào các binh trạm Trường Sơn mới biết sức mạnh của chiến tranh nhân dân thật kỳ diệu. Cuộc chiến đã huy động được hàng triệu lượt người náo nức ra trận. Đó là cái khí thế của “Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến. Như tình yêu nối lời vô tận” (Phạm Tiến Duật). Trung đoàn 271 chúng tôi khi vào Trường Sơn được mang biệt danh là “Đoàn 2005”. Trước và sau chúng tôi còn biết bao đoàn, đã và đang đi…


271 khi vượt Trường Sơn là trung đoàn thực binh. Ngoài lương thực, thực phẩm dự trữ và quân, tư trang cá nhân, còn phải mang vác vũ khí, khí tài nặng từ ĐKZ 75 ly, 12,7 ly, cối 82, cối 60, đại liên, B41, B40, máy thông tin 2W, 15 W… Bởi vậy nên thường bị các đoàn như 2006, 2007 vượt lên trước. Đó là các đoàn thuộc Quân khu 2, Quân khu 3, Quân khu Việt Bắc… gồm hầu hết lính ở các tỉnh từ Thanh Hoá, Hà Nam Ninh trở ra. Họ mang vác nhẹ, chỉ có ba lô quần áo và bao gạo trên vai. Trẻ, sung sức, cùng một quyết tâm ra trận nên lúc nào cũng chen lấn để vượt đoàn chúng tôi. Bởi vậy, đôi lúc, đã có những xích mích nhỏ giữa chúng tôi với họ. Dù sao đó cũng là những kỷ niệm đáng nhớ và đáng yêu trên chặng đường hành quân đầy thử thách, hy sinh của những năm tháng hào hùng đó.


Đến binh trạm 15, lác đác đã có người bị sốt rét. Có thể nói những anh chàng nào to mập, trông khoẻ mạnh, sung sức nhất xem ra lại bị quật đổ trước tiên. Thêm một nỗi lo và gánh nặng cho những đồng chí còn lại. Bởi vì, theo quy định và quyết tâm của trung đoàn trước khi hành quân là 100% quân số phải đến đích tập kết an toàn. Đoàn chúng tôi theo kế hoạch, phải tập kết tại Bộ Tư lệnh 470, thuộc B3 ở Tây Nguyên. Như vậy, không còn cách nào khác là buộc phải khiêng cáng những anh em bị sốt, không được gửi lại ở các binh trạm. Phải công nhận một thực tế là ai đã từng bị sốt rét mới thấy hết được sức tàn phá mau lẹ và khủng khiếp về sức khoẻ bởi căn bệnh quái ác đó. Chỉ vài ba ngày sốt cấp tính, người bệnh gần như không thể bước được nữa. Những cơn sốt kinh người với nhiệt độ cơ thể có khi lên tới 40, 41 độ C. Chỉ một tuần sau khi lâm bệnh thì dù đó là thanh niên khoẻ mạnh, cường tráng cũng biến thành một hình hài tiều tuỵ, suy sụp, đứng không vững nữa. Có người chỉ cần sau vài cơn co giật là trút hơi thở cuối cùng. Đó là trường hợp những ca bị ác tính. Tôi đã đau xót chứng kiến cái chết của người bạn thân cùng trung đội tên là Trần Văn Mão quê ở Nghi Lộc, Nghệ An. Mới buổi chiều còn cùng tôi ăn chuối (cậu ta tìm đâu được một buồng chuối rừng chín bói) ăn xong lại còn tặng tôi 40 đồng (tiền miền Bắc lúc đó), nói để ngày nào được ra Bắc dành mua quà cho người thân. Đêm. Khoảng 12 giờ, cậu ta lên cơn sốt cao, co giật mấy cái rồi im bặt. Mão hy sinh lúc tròn 20 tuổi. Chúng tôi mai táng Mão bên cạnh gốc một cây lim lớn rồi đánh dấu vào đó, hy vọng sau này ai đó có thể tìm lại được. Nhưng… có lẽ chẳng bao giờ hài cốt của Mão có cơ hội trở về được nơi quê cha đất tổ nữa bởi hai lý do: Thứ nhất, chúng tôi phải cuốn theo cơn lốc của cuộc hành quân thần tốc, thứ hai là mối ở Trường Sơn thật kinh khủng. Thi thể cậu ta sẽ bị đàn mối rừng xông trong vài hôm là hết sạch. Ngủ rừng ban đêm ở đây, nếu bất cẩn thì sáng ra, ba lô của anh chỉ còn một đống đất và súng AK thì chỉ còn lại phần thép mà thôi… Mối đã xông hết tự lúc nào!


Đêm nghỉ, ngày đi thấm thoắt đã đến binh trạm 36. Trước đó, chúng tôi đã vượt qua đường 9, đoạn nối từ Khe Sanh lên. Chứng tích về thảm bại chiến dịch Lam Sơn 719 của Mỹ – nguỵ phơi bày ra trước mắt. Xác chiến xa M41, M48 cùng xe bọc thép M113 và các loại chiến cụ khác ngổn ngang cả một bãi chiến trường. Vì phải bảo đảm bí mật đội hình hành quân nên chúng tôi phải vượt nhanh qua đoạn đường này (Đây là binh trạm có cung đường xa nhất trong suốt chặng đường hành quân trên Trường Sơn). Mấy ngày sau đó chúng tôi vượt sông Xê Pôn. Nước sông ở đoạn này chảy rất xiết. Các chiến sỹ công binh Trường Sơn đã lợi dụng các tảng đá chìm giữa lòng sông để bắc cầu ngầm tránh sự phát hiện của lũ trinh sát OV10 và L19 suốt ngày o o trên đầu. Tại đây, chúng tôi có một kỷ niệm khó quên. Đó là việc anh Trần Văn Khánh (Hưng Nguyên, Nghệ An) trung đội phó, khi vượt sông, do sơ ý trượt chân, đã làm rơi khẩu AK xuống dòng nước xiết. Cả anh và chúng tôi thay nhau lặn mò nhưng không thể tìm thấy. Khánh bị lưu Đảng và bị giáng chức từ B phó (trung đội phó) xuống làm A phó (tiểu đội phó)… Sau này trong trận đánh tại Ngã ba Lộc Giang (Đức Hoà, Long An) vào tháng 5 /1972, Khánh đã hy sinh…


…Trạm 36 là một binh trạm nằm giữa đại ngàn Trường Sơn với bạt ngàn cây cổ thụ thuộc các nhóm gỗ quý như lim, trắc, sến, săng lẻ… Có những rừng lim hoặc săng lẻ, đi cả ngày đường không hết. Ngày ấy, chúng tôi nghĩ: “Sau này, khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, nguồn lâm sản quý giá và phong phú chủng loại ấy sẽ góp phần làm giàu cho hai nước Việt – Lào…”


Nếu ở binh trạm 5 là nơi địa đầu đối diện giữa tỉnh Quảng Bình với tỉnh Kham Muộn của nước bạn Lào thì chỗ này thuộc địa phận của tỉnh Xa Va Na Khet. Vào đến đây mới thấy hết được cái ác liệt của Trường Sơn dưới mưa bom B52. Buổi chiều hôm ấy, sau khi cả đội hình hành quân đã tập kết đầy đủ tại binh trạm, mọi người lo cơm nước và chuẩn bị nghỉ sớm để lấy lại sức cho chặng đường hành quân ngày mai.


Đúng 7 giờ sáng hôm sau, khi chúng tôi chuẩn bị xốc ba lô và vũ khí lên vai thì máy bay địch ập đến. Tiếng gào rít xé trời của phản lực F4 “Con ma” được cộng hưởng bởi thung lũng và vách núi làm cho đinh tai nhức óc. Sau mấy vòng lượn, chúng bổ nhào xuống cắt bom vào cạnh đội hình hành quân. Loạt bom thứ hai vừa nổ thì mấy chiếc “Zin“ chở gạo phía bên kia bốc cháy. Phát hiện được mục tiêu, chúng gọi các tốp khác bay đến đánh bồi. Bom nổ ngay sát đội hình. Có những trái rơi gần chúng tôi. Tuy nhiên, nhờ các cây cổ thụ nên bộ đội có chỗ ẩn nấp do vậy thương vong không nhiều. Mặt khác, từ phía đông, trận địa cao xạ 37 ly của đơn vị phòng không, bảo vệ binh trạm bắn mãnh liệt đã đẩy giạt lũ F4 ra xa. Sau trận không kích dữ dội ấy, trung đoàn ra lệnh nhanh chóng giải quyết hậu quả. Nhưng một khó khăn đột xuất xảy ra, đó là việc bộ đội không còn gạo để ăn nữa. Vì theo quy định thì đến binh trạm 36 sẽ nhận lương thực bổ sung vì đã hết. Thế nhưng, có được vài chiếc xe chở gạo, may mắn thoát khỏi các trọng điểm ác liệt do máy bay Mỹ đánh phá, vào tới đây thì đã bị cháy trong trận oanh kích sáng nay. Do đó, đành phải nằm chờ. Tôi có một kỷ niệm với Đính ở binh trạm này. Hôm ấy, đã hai ngày, chúng tôi ai nấy tự mình kiếm được gì thì ăn nấy. Tôi cùng Đính vào sâu trong rừng để mong tìm đào củ mài hoặc môn thục. Đang đi, bất chợt, phát hiện ra một tổ ong muỗi trong một hốc cây khô, tôi chỉ cho Đính rồi thò tay vào móc. Mật ong theo cánh tay tôi chảy ra. Đính lấy bát sắt hứng, hai người thay nhau uống. Tôi uống gần một “bát B52” (bát sắt tráng men Trung Quốc trang bị cho bộ đội dùng để ăn cơm, có dung tích khoảng 400 ml) mật ong giữa lúc bụng rỗng không. Về đến chỗ đóng quân, tôi liền treo võng nằm. Nước miếng trong miệng chảy ra cơ man nào mà kể.  Bị say mật, mọi người phải giã củ mài sống, lọc nước cho tôi uống, mãi sau mới tỉnh lại. Chắc là Đính khoẻ hơn nên không bị say. Tôi vốn hay đau bụng, vậy mà từ đó về sau không còn thấy hiện tượng đó nữa. Chắc… giun đã chết hết!…


… Có thể hình dung mức độ ác liệt của chiến trường: Cứ khoảng 100 xe vận tải xuất phát từ Quảng Bình, vào tới đây hoặc sâu hơn chút nữa, may ra chỉ còn lại mấy chiếc. Qua các trọng điểm ác liệt, hầu hết các xe đều bị bắn cháy. Gạo ăn của bộ đội hàng ngày tuỳ thuộc vào những chiếc xe này.


Khác với trước đây, để chuẩn bị lương thực, thực phẩm cho bộ đội hành quân trên Trường Sơn, các đơn vị hậu cần của Bộ Tư lệnh 559 lo làm kho, lán dự trữ. Bộ đội đi đến đâu, tự giác lấy theo nhu cầu của mình. Đến giai đoạn này, quân vào đông, nguồn lương thực, thực phẩm dự trữ đã cạn. Mặt khác, một số kho lại bị ném bom, bị bọn thám báo, biệt kích đốt cháy hoặc qua các mùa mưa đã bị mục nát. Do vậy, việc tiếp tế cho bộ đội hàng ngày chủ yếu là dựa vào những chuyến xe đó. Những chuyến xe “mồ côi” như vậy khó có thể đáp ứng được nhu cầu tối thiểu hàng ngày cho bộ đội Trường Sơn…


Rời binh trạm 36, chúng tôi tiếp tục hành quân… Lại vượt dốc, trèo đèo, đêm nghỉ ngày đi… Tôi lại có một kỷ niệm với Đính ở binh trạm 40. Vốn trước đó, do mang vác nặng, hành quân đường trường, lại đèo dốc, vực thẳm, tôi bị bong gân bàn chân phải, đau đớn vô cùng. Vậy mà trên vai vẫn bàn đế cối 82 ly, vẫn ba lô, bao gạo… Tôi cắn răng, cố lê từng bước để theo kịp đơn vị. Đang đi, bàn chân phải vốn bị bong gân của tôi bỗng vấp phải một cái rễ cây nổi lên giữa lòng đường. Ôi! Đau! Một cái đau không có ngôn ngữ để diễn tả. Có lẽ những lần bị thương sau này cũng chưa có lúc nào có cái cảm giác đau đớn hơn thế. Tôi ngã chúi cả người về phía trước. Nước mắt trào ra. Chiếc bàn đế rời vai tôi ném thẳng vào gót chân của Đính. Một mảng gân trắng hếu lòi ra. Tiếp theo là máu. Nhiều máu quá! Đính đau điếng, ngã theo. Cái nòng cối 82 đè lên cổ cậu ta. Còn chiếc bàn đế của tôi rơi xuống mép dốc thiếu tý chút nữa thì lăn xuống vực. Tôi hoảng hồn và không hình dung nổi mức độ kỷ luật dành cho mình sẽ như thế nào nếu như chiếc bàn đế đó nằm dưới đáy vực?! Cả đại đội được lệnh tạm dừng, chờ đợi để băng bó cho Đính. Phải mất hơn tuần sau, Đính mới cà nhắc, vác được nòng pháo theo đơn vị. Còn cái chân phải của tôi đã thành mãn tính không lành được nữa. Tối tối, sau một ngày hành quân trèo đèo, vượt dốc, tôi phải ngâm chân bằng nước muối nóng cho đỡ đau để ngày hôm sau tiếp tục theo kịp đơn vị. Đau mấy cũng phải cố gắng theo, bước đi mà phải giấu dòng nước mắt chảy tràn trên má vì đau. Bởi nếu chỉ một biểu hiện nhỏ về sự nhụt chí sẽ bị xem là “có vấn đề về tư tưởng…”


…Chúng tôi vượt sông Xê Công khi trời đã về chiều. Mùa khô nên nước sông không sâu, cá ở con sông này nhiều vô kể. Binh trạm đóng gần sông. Tôi nhớ ở gần chỗ trú quân là nơi uốn khúc của con sông, nước xoáy khoét sâu vào phía hữu ngạn tạo nên những cái vực sâu. Hôm ấy, một đồng chí trong đại đội (tôi không nhớ rõ tên) đã ném xuống đó một trái thủ pháo. Không biết cơ man nào là cá. Đại đội chúng tôi đã vớt được mấy bao tải (loại bao cát của Mỹ dùng để làm công sự dã chiến). Đồng chí này sau đó bị kỷ luật cảnh cáo. Nhưng, chúng tôi thì được ăn cá thoả thích, còn chia phần cho các đại đội khác… Mấy ngày sau, chúng tôi vượt dốc 2001 (độ cao 2001 mét so với mặt biển). Dốc dựng đứng. Đầu người này chạm đáy ba lô người kia. Bộ đội công binh đã căng sẵn hai bên hai sợi dây song (mây) to bằng bắp tay. Không biết cây song mọc từ đời nào mà dài đến thế? Nếu không vì nặng mà để nguyên cả cây có lẽ nó phải dài đến cả cây số. Họ phải chặt ra nhiều khúc, căng ra cho bộ đội bám vào đấy để leo lên. Dưới đất, công binh và giao liên 559 phải làm cấp, lát gỗ, nẹp chặt lại để định vị. Có đến hàng chục nghìn bậc như vậy ở cả hai sườn dốc. Quả là kỳ diệu! ở binh trạm này, bộ đội phải cõng nước từ dưới suối lên đỉnh dốc để nấu cơm tối ăn và nghỉ lại trên đó. Vì leo từ sáng đến 5 giờ chiều mới tới được đỉnh dốc. Cơm cũng không chín được vì nhiệt độ sôi có thể chỉ đạt mức 90 – 95 độ C. Đêm treo võng ngủ lại, sáng hôm sau mới từ đỉnh dốc leo tụt xuống.


Cứ thế… chúng tôi lại mải mốt đi… Lại vượt dốc, trèo đèo. Thấm thoắt đã gần 2 tháng trời hành quân, chúng tôi đã vượt không biết bao nhiêu ngọn núi chót vót của Trường Sơn, qua bao nhiêu sông rộng và chảy xiết nữa như Xê Bang Hiêng, Xê Rê Pốc… Gian khổ, ác liệt là thế nhưng tất cả vẫn lạc quan, yêu đời. ở những thời điểm nghỉ giải lao 10 phút, giữa hai chặng hành quân, tiếng hát lại vang lên giữa núi rừng điệp trùng với đá tai mèo, dốc đứng:


Ta vượt trên đỉnh núi cao Trường Sơn.


Đá mòn mà đôi gót không mòn.


Ta đi nhằm phương Nam, gió ngàn đưa chân ta về quê hương.


Quân về trong gió đang dâng triều lên.


Máu thắm đường ta di, lẫn mồ hôi rơi, tình quê tha thiết.


Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình…”


          Hay: “Miền Nam kêu gọi ta, vượt Trường Sơn bay vọng ra. Ôi! Tiếng quê hương như thục dục chúng ta. Mười mấy năm đã qua, giặc tàn phá trên quê nhà; gieo tóc tang điêu tàn xóm làng. Miền Nam yêu dấu ta ơi! Xin hiến dâng cả trái tim chúng tôi đang sục sôi. Miền Nam ơi! Một tiếng của Người gọi, chúng tôi sẽ lên đường về ngay chống quân thù…”.


Chúng tôi hít căng lồng ngực, hát say sưa quên cả mệt nhọc gian khổ và đau đớn! Cái thời tuổi trẻ của những năm đánh Mỹ ấy, nào ai có thể dễ quên? Thật xúc động và tự hào!


loading...

Hành quân Trường Sơn có những kỷ niệm rất vui, rất đáng nhớ và cũng cười… ra nước mắt. Đó là việc nghỉ giải lao, ăn cơm trưa của bộ đội. Không rõ từ lúc nào, ai đã đặt ra cái từ “ca nhạc” (ăn cơm). Cứ khoảng hơn 9 giờ sáng đã bắt đầu có tiếng “ca nhạc đi thôi”. Vậy là cả một khoảng chiều dài rừng Trường Sơn nối nhau râm ran cái tiếng hấp dẫn ấy. Bởi cái tiếng ấy cất lên là báo hiệu sắp được nghỉ ăn trưa. Điều quan trọng không phải là được nghỉ mà là được ăn. ở Trường Sơn rất đói. Mặc dù buổi sáng, vừa mới ăn xong nhưng chỉ khoảng vài tiếng đồng hồ sau đã đói cồn cào. Vào đến đây, thực phẩm dự trữ của từng người trong ba lô đã cạn. Ngoài suất cơm ít ỏi ra, thức ăn chỉ có một dúm ruốc bông nấu với môn thục (rất hiếm) hay một thứ lá rừng nước lõng bõng, nêm một chút mỳ chính là xong. Chúng tôi thường gọi đùa là “canh toàn quốc”. Buổi trưa mỗi người một nửa hăng-gô Trung Quốc cơm lèn chặt, vậy mà ăn xong, vẫn nghĩ, ước gì còn, sẽ ăn hết một hăng- gô nữa… Tôi chợt nhớ lại một kỷ niệm cũng cười ra nước mắt. Đó là ở binh trạm 49 ăn canh lá rừng. Hôm ấy, tôi và Đính đến phiên nấu cơm. Chiều hôm trước, khi đến binh trạm, vừa nấu cơm xong, nhìn lên tán cây, bỗng tôi phát hiện thấy lá “mỳ chính” (tôi tưởng là cây “mỳ chính” thật. Bộ đội Trường Sơn gọi là cây “mỳ chính” (bột ngọt) vì lá của nó ăn ngọt như nêm mỳ chính). Tôi gọi Đính và chỉ cho cậu ta, nhưng vì trời chiều tối rồi nên chúng tôi không trèo hái nữa. Sớm hôm sau, Đính nhóm bếp thổi cơm, tôi trèo lên hái xuống rửa sạch cho vào nồi nấu canh cho bộ đội (hành quân Trường Sơn mỗi trung đội tổ chức một bếp). Cơm sáng xong, đơn vị được lệnh hành quân. Vừa đi được một quãng, tôi bỗng thấy bụng quặn đau, sau đó đau quằn quại rồi nôn mửa. Tôi báo cho trung đội trưởng Lê Văn Thuần, (quê Diễn Châu, anh hy sinh trong trận đánh ngày 16/6/1972 tại Long Khốt, Kiến Tường (Long An) cùng 4 đồng chí khác). Rồi liền sau đó rất nhiều người trong đó có cả Thuần cùng kêu đau bụng và nôn thốc, nôn tháo. Người đi đầu đội hình mới leo được một đoạn dốc cũng ôm bụng kêu đau, rồi tất cả những ai ít nhiều ăn canh đều bị ngộ độc. Cả trung đội nằm la liệt trên triền dốc. Đại đội báo lên tiểu đoàn, tiểu đoàn gọi lên trung đoàn. Trung đoàn lệnh cho tiểu đoàn buộc phải khẩn trương tập trung các y tá, y sỹ của tiểu đoàn về đại đội chúng tôi tìm cách giải độc cho mọi người. Tôi ăn khá nhiều canh nên nôn mật xanh, mật vàng, mắt hoa lên, tai ù đặc. Tuy nhiên nhờ nôn sớm, nôn hết nên không ai làm sao cả, chỉ mệt thôi. Hú vía! Trung đội chúng tôi buộc phải dừng lại, ngày hôm sau mới lên đường đuổi theo đơn vị. Lần ấy tôi và Đính bị khiển trách. Tuy nhiên, nào ai muốn thế! Vì chính chúng tôi cũng là nạn nhân của nồi canh ấy mà. Cái thứ lá mà tôi nhầm tưởng lá “mỳ chính” ấy có tên gọi là lá bét. Từ đó trở đi, đơn vị cấm hẳn, không cho bất cứ ai nấu canh lá rừng nữa, trừ môn thục và rau tàu bay. Nhưng loại này ở Trường Sơn là “hàng quý hiếm”, dễ gì tìm được!


Cái đói vẫn cứ đeo đẳng, bám theo chúng tôi. Cũng vì thiếu gạo và muốn cải thiện thêm chút ít cho đỡ đói lòng nên suýt nữa thì tôi bỏ mạng trên  dòng Xê Rê Pốc. Hôm ấy, đơn vị tôi dừng chân bên bờ sông này. Trước đó, đoàn thuyền chở gạo của hậu cần binh trạm đi trên sông, không may, có một chiếc đâm phải đá ngầm bị chìm và nước cuốn trôi. Nước ở con sông này chảy xiết, các bao gạo sau khi ngấm nước liền cuốn theo dòng rồi giắt kẹt vào giữa các lèn đá trên sông. Các đơn vị khác đi qua, đã có người mò vớt rồi. Tôi đến sau, khi được tin liền chạy ra bờ sông cởi ngay quần áo nhảy xuống. Tôi men theo một ghềnh đá giữa dòng nước xiết. Dưới tảng đá là một lỗ hổng to. Hai tay tôi bám trên đỉnh hòn đá ấy, thả người xuống thăm dò. Thật bất ngờ, như một ma lực, tôi bị dòng nước hút ngay vào lỗ hổng đó. Chân tôi chạm phải một bao gạo nhưng đuối tầm quá. Tôi cố đu người để kéo mình ra khỏi hút nước ấy, nhưng không thể được vì sức lực của hai cánh tay không thắng nổi dòng nước xiết. Tôi nghĩ ngay đến cái chết. Chỉ cần bất cẩn, trượt tay hoặc chùng cơ là dòng nước chết người ấy sẽ hút tôi giắt vào kẽ đá dưới lòng sông như những bao gạo kia. Và vĩnh viễn tôi gửi lại bộ xương của mình dưới đáy sâu của dòng sông Xê Rê Pốc dữ dằn đó. Nghĩ như vậy, tôi cố gắng lấy hết nghị lực và sức lực của mình trong cố gắng lần cuối một cách tuyệt vọng. Thật bất ngờ, hai cánh tay như có phép lạ, chúng kéo tôi lên được một đoạn, nhờ đó mà chân chạm phải một gờ đá. Chỉ chờ có thế, tôi đạp bám vào và nghĩ nhanh: “Thế là sống rồi!”. Lấy chỗ đó làm điểm tựa, tôi đạp mạnh, rút người lên. Mặc vội quần áo rồi chạy ngay về nơi đóng quân. Tôi kể lại cho mọi người nghe, ai cũng tròn mắt, lắc đầu. Tôi nghĩ: “Có lẽ tổ tiên đã phù hộ, độ trì cho mình trong lần ấy và kể cả sau này, khi lâm trận”.


Bây giờ thì chúng tôi đã tới địa phận của B3. Theo kế hoạch thì 271 sẽ được bổ sung cho Bộ Tư lệnh 470 ở Tây Nguyên. Đêm đêm, tiếng bom B52 vẫn ì ầm dội đến từ các binh trạm trước và sau chúng tôi. Nhiều lúc, đêm trước B52 vừa rải thảm ở cung đường trước mặt, sáng ra, chúng tôi liền vượt qua chỗ đó. Núi rừng Trường Sơn bị cày xới nham nhở bởi hố bom B52 dày đặc. Chứng tích về tội ác dã man của giặc Mỹ bởi B52, chất độc dioxin (da cam) và bom napan huỷ diệt còn nguyên trên những cánh rừng. Một hình ảnh đầy sức gợi tả và ám ảnh đã được Tố Hữu sau này ghi lại hết sức sinh động:


 


 Cây khô chết chẳng nghiêng đầu.


Nghìn tay than cháy, rạch màu trời xanh.


 


       Càng vào sâu, núi rừng càng trùng điệp. Tuy là mùa khô nhưng có những con suối rất sâu và vách thành dựng đứng. Công binh đã lựa những cây song (mây) lớn để bắc những chiếc cầu mây cho bộ đội qua suối. Phải thừa nhận là công binh Trường Sơn có đôi bàn tay tài hoa và thật kỳ diệu trong việc nối đường giao liên bằng những chiếc cầu mây có một không hai trong lịch sử chiến tranh. Những chiếc cầu mây được néo buộc từ những gốc cây của mỏm núi này sang các gốc cây của mỏm núi khác trông chót vót, chênh vênh như trong tranh thuỷ mặc cổ điển của Trung Quốc. Nhưng kể cả người và vũ khí nặng đều có thể đi qua một cách an toàn trong sự chòng chành nhẹ lay như đưa võng. Một hình ảnh thật lãng mạn! Tôi thoáng nghĩ, nếu ở góc nhìn điện ảnh chếch từ phía dưới lên, nhà quay phim sẽ có một cảnh quay thật ngoạn mục với hình ảnh sinh động của các chiến sỹ giải phóng đội mũ tai bèo, ba lô, súng đạn đang đi ngược với góc 90 độ, thân hình song song với mặt đất như các Nin-Ja Nhật Bản vậy! Dọc đường Trường Sơn, chúng tôi đi qua rất nhiều những chiếc cầu mây như thế. Đó là những chiếc cầu của trí thông minh, lòng quả cảm; của ý chí độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam ở thế kỷ XX…


…Thấm thoắt, chúng tôi đã đến chân cao nguyên Bô Lô Ven (Nam Lào). Hôm ấy đúng vào ngày 22 tháng 12 năm 1971, sau một ngày hành quân, chúng tôi dừng chân trên sườn đỉnh cao nguyên này. Vì là ngày thành lập Quân đội nên Trung đoàn lệnh cho các đơn vị được nghỉ chân một ngày. Trưa hôm đó, trong cuộc nói chuyện với chúng tôi, đồng chí Chính uỷ Đoàn Sáu (quê Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) có  một câu mà đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in “…Nếu nhiệm vụ của các đồng chí chỉ là vượt Trường Sơn không thôi thì đến đây, đã đủ điều kiện để phong tặng danh hiệu Anh hùng cho tất cả mọi người. Nhưng đích của chúng ta là ở chiến trường, nơi đối mặt với kẻ thù, và buộc phải chiến thắng, nên nhiệm vụ trước mắt hãy còn hết sức nặng nề. Các đồng chí phải nỗ lực, cố gắng hơn nữa…”.


Quan sát và ghi chép vốn là một thói quen và sở thích của tôi. Bởi vậy, dọc đường Trường Sơn và kể cả sau này, khi chiến đấu, hễ có cơ hội là tôi ghi lại những gì đã diễn ra trong hai cuốn nhật ký “Dọc đường chiến tranh”. Một hình ảnh đọng mãi trong tâm trí tôi. Đứng ở triền dốc cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, thấy cả một núi gậy và áo Thu đông, trang bị cho bộ đội chống rét trên Trường Sơn. Mỗi người khi qua đây đều quẳng xuống chân dốc một cái gậy và một cái áo ấm, sau khi không dùng tới nó nữa. Vì vào tới đây đã hết lạnh. Tôi chợt nghĩ vui: nếu bọn tình báo, gián điệp có thể đếm được núi gậy này thì đó sẽ là một số liệu tình báo sống, cực kỳ chính xác, vì nó sẽ giúp chúng biết được số quân ta vào chiến trường là bao nhiêu (?!) Một đống gậy có một không hai trong lịch sử chiến tranh. Chiếc gậy ấy đã đi vào cuộc sống của bộ đội, vào thơ ca, nhạc, hoạ trên đường ra trận. Nhạc sỹ Phạm Tuyên hoàn toàn có lý khi viết ca khúc “Chiếc gậy Trường Sơn”, lời bài hát có đoạn: “Luyện cho đôi chân vượt đường xa không mỏi, luyện cho tinh thần (là) chỉ tiến không lui”…


 


… Đã trên hai tháng hành quân, vậy mà chặng đường như dài ra hơn trong cảm giác của mọi người khi đứng trên cao nguyên này nhìn tít tắp vào phía Nam. Bây giờ, chúng tôi đã đến địa phận của tỉnh A Tô Pơ, Nam Lào…


Từ sườn đỉnh cao nguyên này, phóng tầm mắt ra xa, thấy những cánh rừng già lúp xúp như mâm xôi, hút tầm mắt chúng tôi đến tận chân trời phía Nam. Vào đến đây, tuy sức khoẻ của mọi người bị giảm sút nhưng cơ bắp thì rắn rỏi hơn. Số người bị sốt rét tăng lên từng ngày. Đôi vai chúng tôi ngày một nặng thêm.


Tính hai mặt luôn là sự tồn tại của quy luật cuộc sống. Nó cũng giống như tấm huân chương. Mặt trước thì rực rỡ, sáng ngời, nhưng phía sau thì xù xì góc cạnh. Cuộc chiến vĩ đại này, bên cạnh cái hào hùng có cái bi thảm. Đối lập cái cao cả, tồn tại cái đớn hèn. Lương tri trong sáng song hành cùng sự phi nhân tính. Nếu như trong cái không khí hào hùng của những binh đoàn nối nhau ra trận như trẩy hội với những con người háo hức ngày đêm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”; với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” thì vẫn có không ít những kẻ bạc nhược, sợ chết, tìm cách quay lại trước khó khăn, gian khổ, ác liệt. Nếu chưa có cơ hội đào ngũ được thì thoái thác nhiệm vụ hoặc giả vờ ốm đau để buộc đồng đội phải khiêng cáng, mang vác thay cho mình.


Hồi ấy, ở khẩu đội tôi, có một cậu tên là H. (tôi xin được giấu tên thật), quê Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Công bằng mà nói, anh ta cũng có ốm, nhưng so với những người khác, thì chưa thấm vào đâu. Vậy mà do tư tưởng sợ chết, sợ gian khổ, không muốn vào chiến trường nên lấy cớ, “đập bệnh” ra không chịu đi nữa. H. cố nhịn ăn để sức khoẻ nhanh chóng giảm sút, bắt chúng tôi phải khiêng. Nếu không khiêng, nhất định H. không chịu đi. Theo mệnh lệnh, chúng tôi buộc phải chấp hành. Khẩu đội thay nhau, hai người một, cáng H. Đường dốc, quanh co, lèn đá dựng đứng. Chúng tôi vừa mang vác nặng lại vừa phải khiêng thêm người nên hết sức vất vả. Vai bỏng rát, gối run, chân chồn. Mồ hôi ướt đẫm quần áo. Hôm ấy, đến lượt tôi và Đính khiêng H. Chúng tôi bảo nhau phải cho thằng này “biết thế nào là lễ độ”. Đợi khi đi qua chỗ dốc và cua gấp khúc, chúng tôi cùng nháy nhau va mạnh cậu ta vào lèn đá liên tục. Đau quá, và hình như cũng biết chúng tôi chơi khăm nên H xin xuống tự đi một cách “ngon lành”. Có mặt mọi người, H. giả vờ không ăn được, nhưng khi nào vắng chúng tôi hoặc khi nằm trên cáng trùm chăn, H. lại lén lấy đường, sữa ra ăn một mình. Chúng tôi, ai cũng tức hắn nhưng vì phải chấp hành mệnh lệnh nên mọi người đành cam chịu vậy thôi. Sau đó mấy hôm, hắn nằm ỳ, không chịu đi nữa. Chúng tôi cũng quá mệt mỏi và không còn đủ sức khiêng hắn. Hơn nữa, đơn vị có thêm những người mới bị sốt rất nặng. Do vậy đã đề nghị đại đội cho gửi hắn lại binh trạm… Nghe nói, sau đó H. đào ngũ quay trở ra Bắc… Sau giải phóng trở về, năm1980 (bấy giờ tôi đang học năm thứ II, Đại học Sư phạm Vinh), tình cờ tôi gặp H. tại cầu phao Bến Thuỷ. H. hồng hào, khoẻ mạnh. Nói chuyện qua quýt, tôi được H. cho biết là đang trên đường đi công tác. Hiện đang làm cán bộ thương nghiệp huyện Kỳ Anh. H. cười rất mãn nguyện. Tôi hiểu, trong cơ chế bao cấp thời ấy (thập niên 80 của thế kỷ trước), thương nghiệp được coi là một nghề “thời thượng”. Bây giờ thì tôi càng rõ hơn về bản chất con người này! Từ bấy đến nay, tôi không gặp lại H. nữa…


…Tập kết tại địa bàn của Bộ Tư lệnh 470, chúng tôi bất ngờ nhận được lệnh mới: “Gấp rút vào B2 để đánh thí điểm địch ở đồng bằng”. Chúng tôi lại tiếp tục hành quân… Càng đi sâu hơn vào phía Nam, núi rừng tuy không dốc như ở Trung Lào nhưng những rừng khộp, rừng le bạt ngàn, cùng những rừng săng lẻ vỏ bạc phếch như da trăn và thẳng như đũa, đi mấy ngày đường không hết.


Bây giờ đã là cuối tháng 1 năm 1972.


Chiều mùa khô Trường Sơn, khi ánh chiều hắt xuống những giọt nắng cuối cùng như nhuộm vàng lên màu diệp lục của lá rừng là lúc lòng người tê tái, trống vắng bởi nhớ nhà, nhớ quê, nhớ hậu phương miền Bắc da diết. Đã có một chiến hữu của chúng tôi (thuộc thế hệ đi trước), nghe nói là một sinh viên Ngữ văn của một trường đại học. Cũng như chúng tôi, đã “gác bút nghiên ” lên đường đánh Mỹ. Khi vào Trường Sơn, anh đã cảm tác viết bài thơ sau đây. Nhưng rồi trong một trận chiến đấu, không may anh hy sinh. Bọn địch đã lượm (nhặt) được bài thơ, sau đó chúng ghép thêm một đoạn sặc mùi “chiêu hồi”, phản động, đem in thành truyền đơn rồi nhanh chóng cho máy bay thả xuống trên núi rừng Trường Sơn. Mục đích tâm lý chiến của chúng là dùng một mũi tên bắn trúng hai đích. Thứ nhất là bôi nhọ hình ảnh người chiến sỹ giải phóng. Thứ hai là hòng làm lung lay tinh thần của cán bộ chiến sỹ ta. Cũng phải thừa nhận một thực tế là bài thơ có những câu như xoáy vào gan ruột những chiến binh như chúng tôi ngày ấy. Nó lay thức tâm can, gợi lên nỗi nhớ nhà da diết, nhớ quê hương đến nao lòng (hồi ấy, chúng tôi nào ai dám đọc to lên đâu, vì có thể sẽ bị đánh giá về lập trường, tư tưởng ngay!). Tôi dẫn ra đây một đoạn:


         


Từ buổi con lên đường, xa mẹ


Theo anh em sang Lào, rồi dấn bước vào Trung


Non cao, núi biếc chập chùng


Sớm nắng biển, chiều mưa nguồn gian khổ…


Tuổi thanh xuân, cuộc đời như hoa nở


Vì hoà bình, đâu ngại bước gian nguy


Mấy tháng trời, đêm nghỉ, ngày đi


Giày bệt gót, áo sờn vai, thấm lạnh


Chiều Trường sơn, núi rừng khô quạnh


Mẹ hiền ơi, con chợt nhớ quê nhà.


Khói lam chiều, giàn mướp lá lên xanh


Cây đa cũ, mái đình xưa,. ôi nhớ quá!…


         Quả thật, những vần thơ đó, tự thân nó có sức ám ảnh ghê gớm. Nếu không vững ý chí và niềm tin, có người sẽ “chùng chân, mỏi gối…”


                                                                                           


…Chúng tôi lại mải mốt đi… Đường hành quân đến đây bất chợt xuyên qua những đồi cỏ lau bạt ngàn một màu vàng chói mắt. Nắng mùa khô gắt gao cộng với màu vàng cỏ lau nhức mắt càng làm tăng thêm cơn khát cháy họng của mọi người. Điều ước ao duy nhất lúc này là được uống nước. Cái nắng cháy da người cộng với những cơn khát, khiến cơ thể như bị khô cong đi. Các đồng chí giao liên cho biết, phía trước mặt sắp đến sẽ có một con sông. Chúng tôi ai cũng nóng lòng, háo hức và càng thêm dồn bước. Tôi liên tưởng đến chi tiết Tào Tháo dụ lính gắng đi tiếp vì sẽ có một rừng mận trước mặt. Mọi người thì mải nghĩ tới con sông. Rừng mận trong “Tam Quốc” là giả tưởng còn con sông phía trước chúng tôi thì có thật… Đang đi, bỗng thoảng một luồng gió mang hơi nước mát rượi phả vào mặt. Cơn gió ấy đưa tôi trở về thực tại. Chúng tôi biết là sắp đến chỗ có con sông. Quả nhiên, đi chừng hơn một cây số nữa thì một dòng sông rộng hiện ra trước mặt. Giao liên cho biết đó là con sông Nậm Bạc. Chúng tôi sà xuống rồi để nguyên cả ba lô súng đạn trên vai gục xuống ừng ực uống như chưa bao giờ được uống. Làn nước ngọt lịm như thấm vào từng tế bào chúng tôi. Tự nhiên cái mệt mỏi, cái nóng bức biến đi đâu mất, nhường lại là sự tươi tỉnh, sảng khoái đến lạ kỳ. Có lẽ, trong đời, ít khi có thể tìm lại được cái cảm giác sung sướng, sảng khoái khi được uống nước như lần ấy trên con sông Nậm Bạc ở Nam Lào…


Càng vào sâu, không khí chiến trường càng nóng lên và rộn rã. Chúng tôi qua các trạm 80, 81, 82… đến trạm 92 là hết đường dây 559 để vào trạm 01 “Giải Phóng”. Chỉ mới gần ba tháng hành quân mà ai cũng tưởng chừng như đã lâu lắm. Đến đây không khí như trẩy hội. Băng rôn, khẩu hiệu chăng ngang đường hành quân. Nhìn từ phía Bắc là câu: “Chào những binh đoàn hùng mạnh của giai cấp vô sản, những người con ưu tú của miền Bắc XHCN vào giải phóng miền Nam” dành cho chúng tôi. Phía bên kia là câu: “Kính chào những người con dũng cảm vì Tổ quốc, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trở về hậu phương” để đưa tiễn những đồng chí thương binh không còn khả năng chiến đấu từ các chiến trường ra Bắc. Có thể nói trong đời, đây là lần đầu tiên chúng tôi mới tận mắt mục kích chiếc xe máy Honda (loại 67 và 50) mà trên lưng nó là các cô giao liên đội mũ tai bèo, mình vận bà ba đen hay quân phục màu cỏ úa, chân đi dép lốp (dép râu), súng AK vắt chéo qua khuôn ngực thanh tân của tuổi mười tám, đôi mươi với gương mặt từng trải qua thử thách ác liệt của bom đạn Mỹ. Hình ảnh ấy đã tạo một ấn tượng mạnh trong mỗi chúng tôi. Nó như một thứ nam châm cực mạnh hút đôi mắt chúng tôi dồn về phía ấy. Vì đã lâu lắm rồi, chúng tôi mới được nghe tiếng cười và giọng nói của “phái đẹp”. Suốt chặng đường hành quân từ dạo chia tay với các cô gái ở Quảng Bình đến giờ, hình ảnh ấy chưa một lần tái hiện. Có thể đó là những cô gái từng có mặt trong bài thơ “Lá đỏ” của Nguyễn Đình Thi đã được nhạc sỹ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành bài hát cùng tên nổi tiếng: “Gặp em, trên cao lộng gió. Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ. Em đứng ở bên đường như quê hương vai áo bạc, quàng súng trường. Đoàn quân vẫn đi vội vã…”. “Vội vã” thế mà ai cũng cũng ngoái đầu nhìn ngắm họ như nhìn những “sinh vật lạ”. Mà lạ thật. Chưa có lúc nào chúng tôi được thấy những con người bằng xương bằng thịt với tư thế đó. Nói đúng ra thì dọc đường hành quân, thỉnh thoảng chúng tôi có gặp một vài phụ nữ. Nhưng họ im lặng, lầm lũi đi dưới phiên hiệu của các đoàn cán bộ dân chính Đảng để vào tiếp quản các vùng mới giải phóng hoặc chuẩn bị nguồn cán bộ cho ngày giải phóng miền Nam. Họ trông tiều tuỵ vì gian khổ và sốt rét rừng Trường Sơn. Vào đến đây, chúng tôi được ăn no, ăn ngon. Được xem phim của xưởng phim Giải Phóng. Có cả phim của Hãng phim truyện từ miền Bắc gửi vào và phim Thượng Cam Lĩnh của Trung Quốc… Gần như bao nỗi gian nan của chặng đường hành quân đầy vất vả ấy đã tiêu tan hết. Nhường lại là sự phấn chấn của những người lính sắp được vào trận. Chúng tôi được nghỉ lại binh trạm ba ngày.


Còn nữa…

Loading...

TIN LIÊN QUAN