Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

                                 


                                Phần II


                         VỀ TRUNG ĐOÀN


 


        Cuối tháng 8 năm 1971, chúng tôi được lệnh rời Đoàn 22 – Quân khu 4, hiện đang huấn luyện tân binh tại Hương Sơn, Hà Tĩnh, vào bổ sung cho Trung đoàn 271 đang đóng quân tại khu vực huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Trong kháng chiến chống Mỹ, 271 vốn là một trung đoàn bộ binh, từng tham chiến tại mặt trận B5, Quảng Trị, với những trận đánh vang dội, lập nhiều chiến tích xuất sắc; tham gia chiến đấu bẻ gãy trận càn lớn của Mỹ nguỵ mang tên Lam Sơn 719; tham gia mở đường Thắng Lợi… và hiện đang đứng chân trên địa bàn huyện Bố Trạch, chờ bổ sung quân để vừa an dưỡng vừa huấn luyện chiến đấu, chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến lược: Bổ sung cho mặt trận B2, đánh địch tại cửa ngõ tây bắc Sài Gòn. (Tất nhiên, nhiệm vụ lịch sử ấy, sau này chúng tôi mới được biết). Tôi và một số anh em tân binh được bổ sung về đại đội 4 hoả lực thuộc Tiểu đoàn 9, gồm 2 trung đội B41 và đại liên; 1 trung đội cối 61 ly, 1 trung đội cối 82 ly (hai khẩu) trong đó có anh Phạm Khắc Đính quê ở Minh Lộc, Can Lộc, nay thuộc thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh (sau chiến tranh, may mắn còn sống, trở về nhưng số phận vẫn không mỉm cười với Đính. Anh đã đột ngột qua đời trong một vụ tai nạn giao thông trên đường đi nhận thẻ thương binh, năm 2001. Chưa một ngày được hưởng chế độ thương tật mà Đính đã vội từ giã cõi đời. Tôi sẽ có dịp nói về những kỷ niệm xương máu giữa hai chúng tôi sau này). Anh Nguyễn Trọng Lục, quê ở Thuận Lộc, nay là liệt sỹ nhưng anh không hy sinh ở chiến trường mà là chết đuối ở ngầm Lý Hoà (Hải Trạch, Bố Trạch) trong một chuyến công tác lấy đạn cối 82 ly để chuẩn bị hành quân. Hôm ấy, trời mưa to, gây ngập lụt ngầm Lý Hoà, mọi người đều can ngăn Lục đừng qua, nhưng cậu ta không nghe, ra đến giữa ngầm thì bị nước cuốn trôi. Mãi hai ngày sau mới vớt được xác. Anh Hiếu – Hiếu Lác – chúng tôi hay gọi đùa như vậy vì mắt cậu ta hơi bị lác (lé) cùng quê Thuận Lộc với Lục, sau này cũng hy sinh ở Đức Hoà (Long An). Anh Hoàng Xuân Lý quê ở Thanh Lộc, Can Lộc học xong lớp 10, nhập ngũ cùng ngày, cũng bổ sung về đại đội hoả lực của chúng tôi. Nay Lý là bác sỹ, Chủ nhiệm khoa Gây mê hồi sức, bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh. Lý là một xạ thủ đại liên gan dạ, dũng cảm, đi suốt các mùa chiến dịch và tham gia tất cả các trận đánh từ năm 1971 đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, năm 1975. Lý bị thương trong trận đánh ở An Ninh (Đức Hoà) năm 1972 và ở Bù Đăng (Quảng Đức) năm 1974. Nay anh đang định cư tại quận 11, thành phố Hồ Chí Minh cùng với vợ con. Anh Nguyễn Thống, quê ở Đại Lộc, Can Lộc cũng xạ thủ đại liên, ở cùng tổ ba người với Lý và Tiến. Thống cũng tham gia hầu hết các chiến dịch. Nhưng khác với Lý, Thống bị thương nhiều lần, nhưng hiện tại, anh vẫn chưa hề được giải quyết chế độ thương tật. Vì sau chiến tranh, giấy tờ thất lạc hết. Nay Thống đang sống trong hoàn cảnh hết sức khó khăn: Vợ yếu, con đông, bản thân lại đau ốm luôn vì vết thương chiến tranh và bệnh tật hành hạ. Lê Văn Tiến (Tiến Râu, vì râu quai nón cậu ta rất rậm, quê Vượng Lộc, Can Lộc), nay là thương binh 1/4. Hồi đó, cùng tổ đại liên với Lý và Thống… Còn bao anh em khác nữa, tôi chưa có dịp nêu tên nhưng hầu hết đều đã hy sinh hoặc bị thương. Số còn lại có nhiều người rất bất hạnh, vì bị nhiễm chất độc dioxin (da cam) mà nay thì con cháu họ lãnh đủ.


Tôi bị thương nhiều lần trong các chiến dịch nhưng tỷ lệ thương tật hiện tại cũng chỉ mới có được 31% (4/4) vì giấy tờ chứng thương bị mất hầu hết. Đêm 26/4/1975, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, một trái pháo 105 li của địch rơi trúng chỗ để “bồng” (một kiểu ba lô cải tiến). Tất cả những kỷ vật chiến trường, trong đó có hai tập nhật ký có tên “Dọc đường Chiến tranh” tôi bắt đầu ghi từ ngày11 tháng11 năm 1971 cùng với hồ sơ, giấy tờ của tên chuẩn uý “Thuỷ quân lục chiến” nguỵ bị thương nặng, được tôi băng bó rồi phóng thích tại trận trong trận đánh ngày18/4/1975, đều bay sạch.


Nhập ngũ ngày ấy, Can Lộc có hơn hai trăm đồng chí. Nhưng sau ngày giải phóng miền Nam, điểm lại, chúng tôi thấy chẳng còn được bao người. Và đó mới chỉ là số người của một huyện trong một trung đoàn mà thôi. Mới biết rằng, cái giá phải trả cho độc lập tự do của dân tộc là vượt ra ngoài sức tưởng tượng!


Ở Bố Trạch, đại đội chúng tôi đóng quân trên địa bàn xã Hải Trạch (vùng sơ tán, do chiến tranh phá hoại của Mỹ). Tôi và Đính được biên chế về khẩu đội 2 của trung đội cối 82 ly, thuộc đại đội 4 hoả lực. Đính là xạ thủ số1. Tôi, xạ thủ số 3. Anh Nguyễn Văn Tiến, (Diễn Châu, Nghệ An, nhập ngũ 1968, sau này bị thương) xạ thủ số 2 . Ngoài ra còn có các anh: Anh Kỷ (Nam Đàn, Nghệ An, sau này bị thương), khẩu đội trưởng; anh Chương (Thanh Chương, Nghệ An, sau này hy sinh) khẩu đội phó; anh Khang (Nam Đàn, Nghệ An, sau này hy sinh); anh Châu (Diễn Châu, Nghệ An, sau này bị thương), anh Chữ (Vượng Lộc, Can Lộc, sau này hy sinh), anh Xuân (Thanh Chương, Nghệ An, sau này bị thương), anh Dung (Quỳnh Lưu, Nghệ An, sau này hy sinh); Anh Chung (Quỳ Hợp – Nghệ An, sau này bị thương), Anh Kinh (Can Lộc), sau này hy sinh v. v… Chúng tôi gấp rút huấn luyện, nắm vững kỹ năng sử dụng loại binh khí này để hợp đồng chi viện cho bộ binh. Mấy anh em được ở trong nhà mẹ Thắng. Năm đó mẹ đã gần 70 tuổi. Mẹ cho biết, đã 15 năm nay, không hề đi đâu xa khỏi nhà. Vậy mà khi chúng tôi hành quân lên nông trường 1/5 (Việt – Trung) ở Cự Nẫm cách đó gần 20 cây số, mẹ vẫn bảo các con, cháu đèo xe đạp, chở mẹ lên thăm lần cuối trước khi chúng tôi vượt “Cổng Trời”, lật cánh sang phía Tây, vào Binh trạm 5, mở đầu cho cuộc hành quân vượt Trường Sơn bằng con đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại vào Nam đánh giặc.


Chúng tôi không bao giờ quên được tấm lòng của người dân Quảng Bình trong những năm tháng ấy. Có thể nói, mẹ Thắng cũng như nhiều bà mẹ khác ở Hải Trạch là điển hình về những tình cảm sâu nặng, thân thương của người người mẹ chiến sỹ nói chung dành cho những đứa con sắp ra trận. Hình ảnh ấy mãi thôi thúc, động v-iên chúng tôi trong những tháng ngày vượt Trường Sơn gian khổ cũng như trong những trận đánh ác liệt trên khắp các chiến trường của mặt trận B2 sau này… Mẹ Thắng có người con trai cũng tên Thắng, vóc người cao to, vạm vỡ, da nâu bóng, làm nghề đi biển. Lúc bấy giờ, anh có người yêu tên là Lăng. Họ yêu nhau thắm thiết. Thắng đôn hậu, hiền lành, tốt bụng và rất xởi lởi. Đi biển về, có con cá, con cua nào tươi, ngon là dành phần cho chúng tôi; giúp đỡ chúng tôi nhiều việc. Ngày tôi lên đường đi B, anh đã gửi ảnh của tôi chụp chưa kịp lấy từ hiệu ảnh về cho cha mẹ tôi. Hết chiến tranh trở về, tôi vẫn nhận ra tấm ảnh tôi chụp ở gần Ngã ba Hoàn Lão (Bố Trạch) hồi tháng 11 năm1971, do anh Thắng gửi ra. Tuy chưa cưới nhau nhưng Lăng vẫn thường qua lại nhà mẹ Thắng làm lụng, giúp đỡ gia đình như người trong nhà. Lăng có cô chị gái tên là Xâm cũng “ngọt nước” lắm (trong con mắt của chúng tôi thì Xâm xinh đẹp và da trắng hơn Lăng). Xâm thường cùng em đến chơi nhà mẹ. Mỗi lần đến, chúng tôi hay gọi đùa: “Anh Thắng ơi, bọn Xâm Lăng đã đến, chuẩn bị chiến đấu nghe!”… Giờ này, có lẽ họ đã có cháu nội, cháu ngoại cả rồi…


loading...

Thời gian ở Hải Trạch tuy ngắn nhưng đã kịp để lại trong ký ức tôi nhiều kỷ niệm vui buồn. Ngoài những câu chuyện mang tính tiếu lâm và tự trào của vùng quê “hai bọ”    (hai người bố) kiểu như: “Bọ biết rồi, tối qua chú ngửi mồm (hôn) con gái bọ mà bọ không nói nghe!” Hoặc, vào nhà thấy hai cụ già cạo trọc đầu, áo quần nâu sồng, mặc giống hệt nhau, cùng chung một điếu cày đang hút thuốc. Lính ta lễ phép: “Con chào hai bọ ạ!”. Tiếng người phụ nữ: “Không phải hai bọ mô (đâu)! Đây là mạ (mẹ) còn bên nớ (kia) mới là bọ!” người vừa nói chỉ tay sang người ngồi đối diện.


Một mẩu chuyện khác: Khi nghe người con gọi bố là “bọ”, mọi người thấy lạ bèn cười, ông già liền hỏi:


– Rứa (thế, vậy) ở ngoài nớ (đó) các chú gọi bọ ra răng (là gì)?


– Chúng con gọi bọ là dòi ạ! – Chúng tôi nháy nhau cười đáp lại.


Ông thành thật:


– Rứa chừng mô (nào) các chú về ngoài nớ cho bọ gửi lời thăm dòi với nghe?!…


Cả bọn cười rộ lên.


 


Tuy nhiên, để lại sâu đậm nhất trong tâm tưởng tôi vẫn là hai kỷ niệm suốt đời tôi mang theo.


 Thứ nhất: Một kỷ niệm vui.


 Hồi ấy, thao trường của trung đội chúng tôi thuộc xã Hải Trạch nằm ngay phía Tây nam chân đèo Lý Hoà. Trên đèo có mấy chiếc boong-ke (lô cốt) của Pháp để lại. Hàng ngày, trên bãi tập, hai khẩu đội cối 82 li dùng các boong-ke đó làm mục tiêu để lấy phần tử ngắm bắn. Phía dưới chân đèo có một cái giếng hoang (vì chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ nên dân đã sơ tán hết, chưa trở lại). Phía mặt đường, được che bởi các bụi ngấy thơm, nhưng phía chúng tôi chỉ mọc vài cây lưa thưa, trông mắt thường vẫn thấy khá rõ. Bãi tập của chúng tôi cách đó chừng 600 m (tính ly giác trên ống nhòm). Cuối mỗi buổi chiều, sau giờ ra mặt đường về, các cô thanh niên xung phong (đa phần, quê từ Thanh Hoá trở ra) lại kéo nhau đến bên giếng để tắm. Sau khi “thoát y”, họ múc nước dội thoả thích, lại còn trêu đùa, so đo… nhau nữa. Cánh lính trẻ chúng tôi tranh nhau chĩa ống nhòm về phía cái giếng, trong khi các cô vẫn vô tư, hồn nhiên, tắm gội một cách thoải mái (họ không ngờ hoặc không biết chúng tôi đang huấn luyện, lại có ống nhòm). Qua ống kính, các “toà thiên nhiên” “trong ngọc trắng ngà” của các “Tiên Dung” hiện lên rõ mồn một. Những thân thể nẩy mầm của các cô gái – tác phẩm kỳ diệu của tạo hoá – đã làm ngây ngất chúng tôi, quên cả giờ về. Mới biết thiên tài của cụ Nguyễn ở Tiên Điền ngày trước!… Chúng tôi đấm lưng nhau thùm thụp rồi cấu véo nhau cười rũ rượi. Chỉ huy đại đội cũng chẳng hiểu sao hôm nào trung đội cối 82 cũng về muộn. Trong nhiều cuộc cuộc sinh hoạt đại đội, trung đội chúng tôi vẫn thường được biểu dương về “ý thức chấp hành thời gian huấn luyện nghiêm túc…”(!?)


…Thế rồi, ngày lên đường vượt Trường Sơn đi B, chúng tôi lại gặp chính những cô gái đó ngay trên mặt đường, nơi các cô đang lấp hố bom, thông xe ra tiền tuyến. Họ nức nở rồi khóc oà lên trong chứa chan nước mắt: “Các anh ơi! Các anh vào chiến trường hết rồi, ngoài này chúng em biết ở với ai!?”. Tiếng khóc ấy bật ra khi trên xe, chúng tôi đồng loạt cất mũ tai bèo chào họ, để lộ những cái đầu trọc lóc vừa mới cạo (hồi ấy, trước khi đi B, chúng tôi, hầu hết cạo trọc đầu – B trọc) như muốn nói lên cái hiện thực dữ dằn “một đi không trở lại”. Sự hy sinh của chúng tôi ở chiến trường là điều dễ hiểu. Bởi “Nam nhi thời loạn”! Nhưng sức chịu đựng, đợi chờ của người ở lại, nhất lại là phụ nữ thì quả là phi thường. Có thước nào đo được sự hy sinh thầm lặng của thế hệ những cô gái ấy, những người phụ nữ ấy! Tổ quốc và nhân dân ta cần có thêm những tượng đài to hơn, cao hơn mới ngang xứng với tầm vóc sự hy sinh vô bờ ấy của họ!!


 


Mẩu chuyện thứ hai: Một kỷ niệm xương máu!


Ở Hoàn Trạch (Bố Trạch), đại đội ĐKZ 75 ly (Đại đội 17, trực thuộc) của trung đoàn cũng đang gấp rút huấn luyện để nắm vững kỹ, chiến thuật, chờ ngày lên đường. Hôm ấy như thường lệ, đại đội đưa bộ đội ra bãi tập. Đến khoảng 9 giờ sáng, chỉ huy cho nghỉ giải lao. Cánh tân binh lần đầu thấy khẩu ĐKZ mới, lạ nên khi anh em lính cũ đã nghỉ, họ vẫn mày mò bên khẩu súng. Phía sau khẩu ĐKZ là một tốp mới ngồì xuống vưà chia bài để đánh vừa uống nước. Bỗng, một tiếng nổ xé tai vang lên cùng với quầng lửa màu da cam phụt ra. Mọi người bàng hoàng, không hiểu chuyện gì. Tiếng la hét thất thanh… Dòng lửa và khói ấy đã làm ba người chết ngay tại chỗ, bốn người bị thương nặng. Trong đó có Nguyễn Văn Â., quê ở Xuân Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh. May mà Â. bị nhẹ. (tôi xin giấu tên thật vì sau này, năm 1973, trong chiến dịch bảo về Hiệp định Paris, Â. có tư tưởng sợ địch, tôi sẽ nói kỹ ở phần sau).


Nguyên do, trong lúc mọi người nghỉ giải lao, tốp tân binh mới bổ sung, táy máy, đã lắp quả đạn thật vào súng và đạp cò. Trước đó, trong giờ tập, họ đã lấy phần tử ngắm bắn vào một chiếc boong-ke của Pháp để lại từ thời “Chín năm” (kháng chiến chống Pháp 1945-1954), cách đó gần hai cây số. Lúc nghỉ, họ đã khoá tầm, khoá hướng lại. Tuy nhiên, viên đạn đã đi chệch mục tiêu, cách lô cốt mấy mét. Nếu trúng lô cốt thì hậu quả sẽ khôn lường. Vì trong đó, lũ trẻ chăn bò đang chơi và tránh nắng.


Một sơ suất nhỏ đã gây nên một tổn thất lớn không đáng có cùng một hậu quả nghiêm trọng. Bài học xương máu khi được rút ra thì cái giá phải trả đã quá đắt rồi! Lẽ ra, chiến trường đã có thêm những tay súng lập công, thì ngược lại họ phải chết một cách oan uổng, tức tưởi và thiếu ý nghĩa.


Anh Cầu (Quảng Bình), chính trị viên đại đội lúc đó, bị kỷ luật Đảng và giáng chức làm cán bộ trung đội. Sau này, vào chiến trường, qua thử thách chiến đấu, anh lại được đề bạt, rồi điều về làm Chính trị viên đại đội 2 tiểu đoàn 8 chúng tôi (bấy giờ là cuối tháng 7/1972, lúc tôi đã chuyển về tiểu đoàn này). Hôm ấy, tôi mục kích sự kiện này khi đang trên đường lấy vũ khí từ Trung đoàn bộ. Sau này, thi thoảng tôi và anh lại nhắc đến kỷ niệm xương máu đau buồn ấy. Ngày giải phóng anh vẫn còn sống. Đã hơn 30 năm nay, tôi không được tin. Không rõ giờ đây, cuộc sống của anh và gia đình ra sao? Có thể nỗi dằn vặt về những tổn thất, hy sinh không đáng có của chiến sỹ trong đơn vị ngày ấy, cùng những gian khổ, mất mát ở chiến trường là gánh nặng đè lên đôi vai vốn đã gầy yếu của người chính trị viên đại đội năm nào. Sau này, vào tháng 5 năm 1973, chính anh cùng anh Nguyễn Tiến Đắc (Gia Lương, Hà Bắc – đại đội trưởng), là những người giới thiệu tôi vào Đảng…


Sau gần hai tháng ở Bố Trạch, chúng tôi có 15 ngày phép để sum họp với gia đình trước khi đi B. Thật hãnh diện, tự hào trong bộ quân phục Tô Châu màu lá cây khi gặp lại số bạn bè cùng lớp hiện đã lên lớp 10. Có người được dịp tái ngộ với người yêu để nói bao điều về tình yêu, ước mơ, tương lai và khát vọng … Có thể nói đó là những ngày phép ít ỏi nhưng đẹp nhất còn lại của chúng tôi trên hậu phương miền Bắc để rồi sau đó phải chia tay bạn bè và những người thân yêu nhất để ra trận. Và đó cũng là lần… cuối cùng đối với rất nhiều đồng đội tôi. Bởi vì sau lần ấy, họ vĩnh viễn không bao giờ trở lại nữa… Họ đã chiến đấu dũng cảm và hy sinh trên khắp các chiến trường…!


Còn nữa…


Phần III: “XẺ DỌC TRƯỜNG SƠN”

Loading...

TIN LIÊN QUAN