Hồi ký" Ký ức Chiến tranh" của Vương Khả Sơn do NXB Thanh niên ấn hành năm 2006 và đã được đưa vào Tủ sách" Tiếp lửa truyến thống – Mãi mãi tuổi Hai mươi". Hiện thực cuộc chiến đã được tác giả tái hiện một cách chân thật, sinh động và cuốn hút. Trong đó xuyên suốt là hình ảnh những người lính kiêu dũng xả thân vì nước. Ra trận với khí thế "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". http://hatinh24h.vn trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 


– Tin liên quan:


Vương Khả Sơn: Phần giới thiệu về hồi ký “Ký ức Chiến tranh”


– Vương Khả Sơn – Cốt cách người hà Tĩnh


 


 


         Phần I                                          


 


         NHẬP NGŨ


 


… Cha tôi cầm tờ giấy trong tay, điềm tĩnh, nói:


– Con có lệnh gọi nhập ngũ rồi!


Tôi nhớ như in câu nói của cha.


Đó là một buổi tối cuối tháng 4 năm 1971. Bấy giờ, tôi đang sống với bà ngoại tại xã Trung Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, cách nay 35 năm (Ngoại tôi không có các cậu, chỉ có hai chị em gái là mẹ và dì tôi. Họ đã có gia đình riêng, nên ngoại ở một mình và nuôi tôi ăn, học từ lớp 1 đến lúc nhập ngũ). Ngày ấy, tôi còn đang học lớp 9 (9/10, nay là lớp 11/12) trường huyện – trường cấp III Can Lộc (nay là trường Trung học phổ thông Can Lộc). Quê tôi ở Khánh Lộc. Cha tôi – một thương binh chống Pháp hạng nặng – và sau này là liệt sỹ (hy sinh do vết thương tái phát). Ông gia nhập Vệ quốc đoàn tháng 4 năm 1946, thuộc Trung đoàn 88. Cùng năm ấy, ông trở thành đảng viên. Từng tham gia chiến đấu ở nhiều chiến dịch lớn như Na Pê, An Khê, Bình Trị Thiên. Đến trận Thanh Lam Bồ 1951 (Quảng Bình) thì ông bị thương nặng, phải rời quân ngũ.


Ngày tôi lên đường, ông căn dặn nhiều điều nhưng có lẽ câu nói: “Con đi, dù gian khổ, ác liệt đến đâu cũng không được bỏ ngũ. Không được làm hoen ố truyền thống cách mạng của đại gia đình ta!” đã trở thành hành trang theo tôi ra trận và suốt cả quãng đời bộ đội. (Ông bà nội tôi có 4 người con tòng quân chống Pháp và chống Mỹ là bác, cha tôi và hai chú. Họ đều trở thành đảng viên Cộng sản. Sau này, cha và chú tôi là liệt sỹ).


Tôi mang theo lời dặn ấy lên đường.


Thế là:


       Lớp cha trước, lớp con sau


Đã thành đồng chí, chung câu quân hành…


Mẹ tôi là một phụ nữ bình thường như bao người mẹ khác. Nhưng trước hoàn cảnh lại rất cứng cỏi và bản lĩnh. Tuy vậy, ngày tôi đi (18/5/1971), mẹ cũng không còn nước mắt để khóc tôi nữa. Ban ngày, bà cố làm vui nhưng đêm về lại lặng lẽ một mình ngồi khóc. Trắng đêm, mẹ không hề chợp mắt. Bởi tôi là đứa con trai đầu lòng; học hành còn dang dở, chiến trường thì ác liệt đạn bom. Ra đi, biết có còn ngày trở về?! Thế nhưng, sáng hôm sau, với đôi mắt ráo hoảnh, mẹ lại động viên tôi: “Con ra đi, cố gắng giữ gìn sức khoẻ, cố gắng theo kịp anh em, bạn bầu…”.


Bất chợt tôi nhớ đến một đoạn thơ của Triệu Bôn:


 … Những ngày ta tòng quân


Trống làng khua như trống trận


Mẹ khóc thầm mấy đêm, bịn rịn…


 Sáng ra, mắt mẹ lại cười


Nước mắt đàn ông không dễ rơi


Những ngày ấy, cha làm nhiều hơn nói


Cha đã quá nửa đời bôn trải


Mòn gót chân xuống bể, ngược mường


Roi, cùm, sưu, thuế nặng oằn lưng


Nên trái tim cha là trái tim chiến sỹ…


 


…Vào thời điểm ấy, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Đó là những ngày cuối mùa xuân 1971, khi chúng tôi còn ngồi trên ghế nhà trường. Bạn bè tôi (sau này là những đồng chí cùng chung chiến hào đánh Mỹ) là những chàng trai mới lớn, chưa ai vượt qua tuổi 18, nhưng đều có chung một ý chí, một tình cảm và một quyết tâm: Ra trận. Tất cả vì miền Nam ruột thịt; Tất cả để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước! Lớp thanh niên chúng tôi thời ấy, hầu hết xem việc được cầm súng đánh giặc, giải phóng miền Nam là một hạnh phúc, một lý tưởng cao cả của tuổi trẻ. Dẫu biết rằng sự hy sinh, tổn thất là tất yếu và đang đợi ở phía trước. Biết vậy, mà chúng tôi vẫn rất hồn nhiên và vô tư quá đỗi. Hào khí dân tộc và cuộc chiến vĩ đại đã đi vào trang viết của các văn nghệ sỹ rồi biến thành sức mạnh vật chất, thôi thúc cả nước ra trận:


loading...

 


Hỡi miền Bắc đó nặng hai vai


Gánh cả non sông, vượt dặm dài


Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước


Mà lòng phơi phới dậy tương lai


(Tố Hữu)


Lãng mạn hơn:


 


Đường ra trận mùa này đẹp lắm


Trường Sơn đông nối Trường Sơn tây…


(Phạm Tiến Duật)


Ai trong chúng tôi cũng háo hức, bồi hồi…


Lớp 9C chúng tôi hồi ấy do thầy Trần Đức Ái, quê Xuân Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh làm chủ nhiệm. Năm nay, thầy tròn tuổi 70, nghỉ hưu đã 10 năm nhưng hãy còn khoẻ mạnh và vẫn tiếp tục cống hiến phần đời còn lại cho việc dạy chữ, dạy người. Hiện thầy đang dạy hợp đồng tại trường Trung học phổ thông dân lập Can Lộc. Tôi nhớ, ngày 18/5/1971, lớp tôi nhập ngũ khá đông, trong số đó Nguyễn Công Lam, Phan Anh Tuấn (Phan Cháu), Phan Công Vinh, Đặng Văn Thọ (đều quê Trung Lộc). Trần Văn Tam, lớp trưởng (Đại Lộc, sau này hy sinh) Nguyễn Văn Tám (Tiến Lộc, sau này hy sinh); Hà Duy Hưng (Tiến Lộc, sau này hy sinh) cùng tôi và nhiều người khác…


Chúng tôi tập trung quân tại xã Xuân Lộc, huyện Can Lộc. Do thiếu nơi ở nên phải chuyển sang Tân Nam Mỹ, xã Trung Lộc. Tôi nhớ nhập ngũ đợt ấy, Can Lộc giao hơn 200 quân. Tất cả chúng tôi ra đi ai cũng có người thân đưa tiễn. Đó là mẹ cha, anh chị em và bà con ruột thịt. Những ai đã có người yêu thì người yêu bịn rịn chẳng nỡ rời. Chúng tôi nhận quân trang. Lần đầu tiên cởi bỏ bộ thường phục, khoác lên mình màu áo xanh của lính, xúng xính, rộng thùng, ai cũng cảm thấy ngỡ ngàng và hình như thấy mình lớn lên hơn, chững chạc hơn hẳn. Chúng tôi ngủ tại nhà dân ở đấy một đêm. Sáng hôm sau (19/5) tôi là một trong 12 người được chọn đi tiền trạm cho đơn vị. Cũng là lần đầu tiên trong đời chúng tôi phải hành quân bộ hơn 70 cây số lên Hương Sơn. Nói là tiền trạm nhưng cuối cùng chúng tôi thành “hậu trạm”. Bởi đi bộ xa chưa quen nên quá mệt mỏi và lại đi sai đường nên khi đơn vị tập kết tại địa điểm quy định ở Sơn Tây, chúng tôi vẫn đang còn ở bên này sông La thuộc địa phận xã Đức Hoà, Đức Thọ. Chiều hôm đó mới vượt sông bằng đò rồi tiếp tục đi. Mười một giờ đêm chúng tôi mới thất thểu đến nơi. Đôi chân và vai rã rời, như muốn đứt lìa ra. Đó là kỷ niệm đầu tiên của đời lính…


…Nơi huấn luyện tân binh chúng tôi thuộc hợp tác xã Hồ Tây, xã Sơn Tây, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Tôi và mấy anh em nữa đóng quân trong nhà mẹ Trị. Năm đó, mẹ đã ngoài sáu mươi. Mẹ yêu quý chúng tôi như con đẻ. Có củ khoai bột mẹ cũng để dành phần cho. Đến mùa mít chín, mẹ lụi cụi làm cho chúng tôi mỗi người một bọc mứt mít sấy khô. Một thời gian sau, khi chúng tôi đã xây dựng xong lán thì chuyển ra ở tập trung. Mỗi trung đội một lán. Nhưng hễ có ngày nghỉ lại chạy về nhà mẹ. Biết là chủ nhật được nghỉ, mẹ chuẩn bị nước chè xanh, lạc luộc, mít chín và khoai cho chúng tôi ăn. Tấm lòng của mẹ và bà con cô bác ở Hương Sơn, chúng tôi ghi lòng tạc dạ.


Tiểu đoàn 8, Đoàn 22 huấn luyện có ba đại đội: 29; 30; 31. Đại đội 30 chúng tôi có ba trung đội. Trung đội 1 do anh Trần Văn Yên (quê Nghi Xuân) chuẩn uý, làm trung đội trưởng. Trung đội 2 do anh Trần Nhơn (quê Kỳ Anh) thượng sỹ, làm trung đội trưởng. Trung đội trưởng trung đội 3 chúng tôi là chuẩn uý Nguyễn Văn Lĩnh, quê Nam Đàn (Nghệ An) có tác phong huấn luyện làm cho mọi người phải nể trọng. Có thể nói, lúc bấy giờ anh là thần tượng đối với cánh lính trẻ chúng tôi. Tiểu đội trưởng huấn luyện là anh Nguyễn Văn Bồng, quê Đức Thịnh. Người thấp nhỏ, giọng nói lập bập, lúng búng. Tính hay cáu gắt…


 Hồ Tây nằm ven hữu ngạn con sông Ngàn Phố nơi thượng nguồn. Mùa này nước trong như lọc. Hàng ngày sau mỗi buổi tập, chúng tôi lại cùng nhau sà xuống lòng sông để được ngâm mình trong dòng nước mát lạnh ấy. Nơi ấy cũng đã kịp để lại trong tôi và đồng đội nhiều kỉ niệm thân thương. Đó là những đêm lửa trại, vui văn nghệ với đoàn thanh niên địa phương kết nghĩa. Những buổi giúp dân thu mùa; những lần qua phà cáp treo Hà Tân  (nay là cầu Hà Tân) sang bên kia có cửa hàng thực phẩm để mua bánh kẹo Hải Châu, xà phòng… Nhưng có lẽ kỷ niệm đáng nhớ nhất là những ngày leo rừng chặt gỗ, nứa làm lán và những buổi hành quân mang vác nặng với ba lô gạch, tập vượt dốc, trèo đèo, chuẩn bị sức khoẻ và ý chí để vượt Trường Sơn trong nay mai. Tôi vốn nhỏ dẻ, nhanh nhẹn và tháo vát nên được điều làm liên lạc cho trung đội. Hai tháng sau, anh Lĩnh tin tưởng, cử tôi đi học lớp lái xe (lái xe là một ước mơ của cánh lính trẻ chúng tôi ngày ấy). Nhưng vì khám lại, không đủ sức khoẻ, tôi đành phải trở lại đơn vị. Đợt ấy có Nguyễn Công Lam (quê Trung Lộc), Nguyễn Trọng Đoàn (quê Nga Lộc, nay định cư tại thành phố Hồ Chí Minh) Vương Khả Hồng (quê Khánh Lộc), Trần Đắc Thường, Nguyễn Văn Trung (Đại Lộc) và một số người khác, học khoá lái xe ở Tràng Kè, Thanh Mỹ, Thanh Chương, Nghệ An. (Lam là bạn học ngồi cùng bàn với tôi hồi cấp III. Lính lái xe Trường Sơn. Sau này là đại đội trưởng một đại đội xe vận tải quân sự, phục vụ chiến trường B5, Quảng Trị. Sau chiến tranh, Lam chuyển ngành về Công ty đường I. Nay đã nghỉ chế độ tại ngã ba Bãi Vọt, thị xã Hồng Lĩnh). Còn nhớ, những ngày đầu nhập ngũ, chúng tôi ai cũng nhớ nhà, nhớ quê đến nao lòng. Vì đây là lần đầu tiên trong đời, chúng tôi xa nhà, xa vòng tay của những người thân. Nhưng rồi cái cảm giác ấy cũng nhanh chóng qua đi, bởi nhường lại là những tháng ngày huấn luyện gian khổ, vất vả, căng thẳng cho kịp với tình hình, nhiệm vụ cấp bách của chiến trường. Chúng tôi lần lượt bắn bài 1, bài 2, bài 3, bắn đêm… rồi học tập chính trị… chuẩn bị ý chí, tư tưởng cho ngày lên đường chiến đấu..


  Ba tháng quân trường mà mọi người đều tưởng thời gian như dài vô tận. Ai cũng nóng lòng, muốn được ra trận ngay…


 


– Còn nữa…


Phần II “Về Trung Đoàn” 

Loading...

TIN LIÊN QUAN