Có thể nói, trong thế kỷ XX, nhân loại đã chọn lựa và tin tưởng để đặt lên vai dân tộc ta một trọng trách, một nhiệm vụ lịch sử to lớn, thiêng liêng, mang ý nghĩa thời đại. Đó là phải đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới – những kẻ thù hung bạo và hùng mạnh vào bậc nhất thế giới – để khẳng định và chứng minh chân lý về "Quyền độc lập, tự do dân tộc"; "Quyền con người được sống và mưu cầu hạnh phúc". Chúng ta đã lãnh nhận sứ mạng lịch sử ấy, để rồi biết phát động và kết thúc chiến tranh một cách trọn vẹn nhất.

Tin liên quan:


“Ký ức Chiến tranh” phần IV (7)


 


Nếu chỉ tính từ sau Hiệp nghị Giơnevơ 1954 đến 30 tháng 4 năm 1975, thì dân tộc ta đã phải trải qua hai mươi mốt năm gian khổ, chiến đấu, hy sinh. Hai mươi mốt năm ấy, đã có biết bao thế hệ kiên cường, bền bỉ cầm súng đánh giặc quên mình để có ngày toàn thắng. Lớp lớp những con người Việt Nam ưu tú đủ mọi lứa tuổi nối tiếp nhau cống hiến trọn vẹn tuổi hoa niên của mình cho độc lập tự do của dân tộc. Và trong số đó, hàng triệu người đã vĩnh viễn ngã xuống. Chúng tôi cũng thuộc một trong những lớp người ấy. Nhưng vinh dự hơn là được chiến đấu và có mặt trong trận cuối cùng để giải phóng đất nước. Và cũng hết sức may mắn so với nhiều đồng đội là còn được sống, trở về sau ngày toàn thắng.


Cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc ta – một dân tộc nhỏ bé với một siêu cường quốc hùng mạnh nhất thế giới trong tương quan một thắng một nghìn là một minh chứng hùng hồn về sức mạnh của chiến tranh nhân dân kỳ diệu, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mac xit chân chính – Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã khẳng định trước nhân loại về chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Chân lý ấy luôn toả sáng cho mọi thời đại. Và vì nó mà con người Việt Nam không hề so đo, tính toán thiệt hơn giữa cái chết với sự sống. Luôn ý thức: “Độc lập tự do hay là chết!”. Không tiếc máu xương của mình cho những giá trị vĩnh cửu ấy.


Từ cuộc kháng Pháp thần thánh chín năm với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, “chấn động địa cầu” đã làm nên “vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại hai mươi mốt năm, đất nước đã trải qua trên mười ngàn ngày đêm chưa bao giờ ngưng tiếng súng. Sức chịu đựng kiên cường, bền bỉ, dám hy sinh có một không hai của chúng ta đã trở thành biểu tượng về ý chí quật cường và sức mạnh “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đối với các dân tộc bị áp bức trên hành tinh này…


Một triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn quân nguỵ Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã. Một chế độ mà Mỹ cố công dựng lên và nuôi dưỡng hơn 20 năm đã sụp đổ tan tành. Chiến thắng vĩ đại này đã hoàn toàn chấm dứt 117 năm sự thống trị của các thế lực ngoại bang phương Tây. Để Tổ quốc, giang sơn đã thu về một mối. Đất nước trọn niềm vui… Vinh quang này vĩnh viễn thuộc về những người con ưu tú của dân tộc đã cống hiến máu xương và cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước.


… Chiến tranh đi qua, chúng tôi đã để lại phía sau lưng mình những trận đánh vang dội cùng những năm tháng hào hùng đầy gian khổ, hy sinh để trở về với cuộc sống đời thường. Nơi đó có tổ tiên, ông bà, cha mẹ cùng những người thân yêu nhất đang ngày đêm mỏi mòn, khắc khoải, trông ngóng những đứa con trở về từ các chiến trường…


Trong hơn một năm, từ giữa 1976 đến cuối 1977, trước khi bè lũ Pôn Pốt – Iêng Xa Ri (Campuchia) trở mặt phản bội chúng ta, gây chiến tranh biên giới Tây nam, chúng tôi lần lượt được giải ngũ, chuyển ngành sau khi đã tham gia làm kinh tế thời hậu chiến ở Long An và Đồng Tháp (Sa Đéc cũ). Khá nhiều đồng đội trong đó có Vũ Duy Tòng, Chu Văn Lương, Đào Xuân Nhuận, Phạm Khắc Đính, Hồ Hữu Danh, Lê Văn Quyền, Nguyễn Hữu Dĩnh, Trần Đức Khâm, Nguyễn Văn Kháng, Trần Lân, Nguyễn Văn Bính, Dương Huy Thẩu… và tôi cùng chuyển ngành, xuất ngũ một đợt. Nguyễn Viết Kỷ (C3, D7), Trương Thiên Lý (C 25 đặc công), Nguyễn Đình Xưng (C 23 vận tải)… và một số đồng chí khác lần lượt ra quân ở các đợt sau.


 Trở về với cuộc sống đời thường sau những năm tháng trận mạc, chúng tôi lại phải đối mặt với cuộc chiến mới không có tiếng súng. Cuộc chiến chống đói nghèo và tụt hậu. Cái chết không còn rình rập như thời đạn bom, nhưng cái vất vả, nghèo đói, thiếu thốn của một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh như một bức tranh hiện thực xã hội mà màu tối là gam màu chủ đạo. Thực tế ấy lại đặt chúng tôi trước thử thách mới phải lựa chọn: Cúi đầu chấp nhận hay nỗ lực, cố gắng để thoát ra khỏi nó! Bằng ý chí và bản lĩnh của người lính, chúng tôi lại động viên nhau và nguyện tiếp tục phát huy bản chất của người lính, của “Bộ đội Cụ Hồ” trong đời thường. Cùng nhau vượt lên khó khăn gian khổ để tồn tại, làm việc và đi tới cho đến ngày hôm nay.


Đã qua rồi những năm tháng đầy gian nan thử thách bởi “áo cơm ghì sát đất” ở cuối thập niên 70 và thập niên 80. Có thể nói đó là giai đoạn đen tối nhất của đời sống xã hội thời bao cấp. Cuộc sống thường nhật với biết bao thiếu thốn khó khăn, tưởng chừng như không vượt qua nổi. Người bạn chiến đấu thân thiết gắn bó nhất của tôi – Vũ Duy Tòng- sau khi giải ngũ về quê hương, đến năm 1977, trở lại học tiếp lớp 10 (năm 1970 lúc nhập ngũ, Tòng đang học lớp 9). Sau đó thi vào Đại học Sư phạm Hà Nội I. Hiện nay, anh là giáo viên Ngữ Văn trường THPT Diễn Châu II, Nghệ An. Còn tôi, sau khi giải ngũ 1 năm, năm 1977 tôi trở lại trường THPT để hoàn thành nốt chương trình lớp 10 (ngày nhập ngũ tôi còn học dở lớp 9), năm 1978 thi đậu vào khoa Văn, Đại học Sư phạm Vinh. Nhưng sắp có giấy báo nhập học thì được lệnh tái ngũ vào tháng 8 – 1978. Tuy nhiên do không đủ sức khỏe, tôi được quyết định về địa phương rồi vào đại học. Tháng 2 -1979, khi chiến tranh biên giới phái Bắc nổ ra thì tôi lại là một trong  sáu đồng chí của khoa Văn có tên trong danh sách tái ngũ. Tuy nhiên, sau đó tình hình biên giới tạm ổn nên được đình hoãn tái ngũ lần 2  để tiếp tục học tập…


loading...

Sau bốn năm đèn sách, ra trường với tấm bằng tốt nghiệp loại ưu, tôi được điều vào dạy Sư phạm Quy Nhơn. Nhưng rồi gần như một định mệnh, tôi quyết định xin từ chối, “Quyết định” công tác, với lý do đơn giản là vừa chân ướt, chân ráo ở chiến trường về, hoàn cảnh gia đình quá ư khó khăn, không thể đi xa được. Liền sau đó, Tỉnh uỷ Nghệ Tĩnh lại xin được điều tôi về Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh, tôi lại từ chối với lí do trái với chuyên môn đã học của mình. Mãi đến tháng 9 năm 1982, tôi mới xin về dạy ở một trường miền núi, trường Cấp III Đồng Lộc (nay là trường THPT Đồng Lộc) cho gần nhà để có điều kiện phụ giúp gia đình…


Sau gần 20 năm gắn bó với mái trường này, với biết bao kỷ niệm vui buồn đồng hành theo thời gian, nhiều thế hệ học sinh thân yêu đi qua cuộc đời tôi mà trong đó, không ít các em đã trưởng thành về mọi mặt, đang tung cánh muôn phương để cống hiến sức mình cho Tổ quốc. Tôi tự hào vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của người lính trên mặt trận mới. Tháng 9 năm 2001, tôi được Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Tĩnh điều về công tác ở Sở…


… Trước khi kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam gần một năm, tôi đã ấp ủ một khát vọng là cần phải làm một việc gì đó để thể hiện những nỗi niềm và tình cảm về ngày vui chiến thắng. Đặc biệt là sự tri ân, sự đồng cảm sẻ chia với đồng đội thân yêu của mình, cùng những năm tháng đầy gian khổ, hy sinh mà hào hùng đã qua. Tôi nghĩ, chỉ còn cách duy nhất là ghi lại quá khứ và cố gắng tái hiện những hiện thực trần trụi của chiến tranh mà mình và các anh đã từng nếm trải…


….Gần một phần ba thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, có những điều của quá khứ đã được khép lại hoặc lãng quên nhưng cũng có những điều thì vĩnh viễn toả sáng trong khối óc, con tim và lương tri của tất cả mọi người. Và dù ai đó có cố tình quên đi thì nó vẫn cứ mặc nhiên hiện hữu. Những sự kiện, những con số, những kỉ niệm… mà tôi ghi lại trong hồi ký này như nó vốn có và như mới diễn ra đâu đây hôm qua. Dĩ nhiên là không thể nào nói hết được. Bởi trong cuộc chiến đằng đẵng ấy có biết bao tình huống, sự kiện đã xẩy ra. Hồi ký chỉ có thể chắt lọc những sự việc và con người điển hình mà thôi; làm sao có thể nói hết được Bởi trong cuộc chiến tàn khốc và đằng đẵng ấy, có biết bao tình huống, sự kiện đã xẩy ra. Hồi kỳ này chỉ chắt lọc những sự việc và con người điển hình mà thôi. Trên bề mặt của hiện thực chiến tranh, tôi đã cố gắng tái hiện được một phần rất nhỏ mức độ ác liệt của đạn bom và tinh thần quả cảm của đồng đội mình. Hồi ký được ghi lại theo trục thời gian thuận. Dĩ nhiên là sau hơn 30 năm, có thể đây đó, tôi không thể nhớ hết từng ngày. Nhưng, những trận đánh, những tên đất, tên người và sự hy sinh quả cảm của đồng đội mà tôi đã chứng kiến và ghi lại là không thể nào sai lệch. Bởi một mặt, những kỷ niệm ấy, với tôi vẫn tươi rói vì đã trở thành máu thịt. Mặt khách quan, đó là những đồng đội tôi sau ngày chiến thắng, may mắn còn sống, đã trở về với đời thường, thảng hoặc qua lại thăm viếng nhau, ôn lại những kỷ niệm chiến trường, tôi đều tranh thủ tham khảo ý kiến của họ. Chỗ nào nhớ không rõ, tôi được anh em bổ sung để hoàn thiện. Những con người tôi nêu tên trong tác phẩm này tuy kẻ còn, người mất, nhưng họ như vẫn ở bên tôi và như mới gặp nhau ngày hôm qua đây thôi. Điều gì giúp tôi nhớ lâu và nhớ kỹ như vậy? Tôi nghĩ, chỉ có tình đồng đội máu thịt cùng nhau sẻ chia những hy sinh, mất mát, gian khổ, ác liệt ở chiến trường mới có được. Bão táp thời gian và cuồng phong của lịch sử có thể sẽ làm lu mờ tất cả. Nhưng với tôi, kỷ niệm về những tháng năm binh lửa, trận mạc cùng những gương mặt đồng đội thân yêu thì đã trở thành tiềm thức. Hình ảnh ấy tự nhiên từ lúc nào đã trở thành một lớp trầm tích trong vỏ não của mình, để trong những thời khắc bất kỳ nó chợt tái hiện. Điều ấy, không chỉ riêng tôi mà là nét chung của tất cả những người lính đã cầm súng đi qua chiến tranh. Có thể nói: Đó là quãng đời đẹp nhất, đáng nhớ nhất của mỗi người.


Trong những ngày vui lịch sử chuẩn bị kỷ niệm 30 năm Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Đất Nước này, tôi chợt nhớ lại âm hưởng của một ca khúc được sáng tác ngay sau ngày toàn thắng. Có lẽ đó là cảm xúc dâng trào của người nghệ sỹ trước niềm vui bất tận ấy. Nhạc sỹ đã rất có lý khi viết giai điệu và ca từ cho bài hát của mình: “Ta đi trên đường mùa xuân, đường vang muôn tiếng hát yêu thương. Trong ánh mắt nụ cười rạng rỡ. Quê hương ơi! Biết mấy tự hào. Ta chung xây đất nước mạnh giàu. Về đây Nam Bắc, cầm tay ca múa trên con đường vui. Trời quê hương lộng gió ngàn phương, không còn bóng mây mù che lối…”… “Những lứa đôi ước hẹn, tuy xa cách nhưng lòng vẫn nhắc nhau ngày toàn thắng…” Và: “Trong niềm vui hôm nay, càng nhớ ơn anh Giải phóng quân, những chiếc mũ tai bèo thân thương. Anh qua bao suối, bao đèo muôn vàn gian khổ. Máu các anh đã đổ cho sông núi càng rực rỡ trong ngày toàn thắng! Tổ quốc ơi! Có bao giờ đẹp như hôm nay! Ta đang sống những ngày chói lọi, của Tổ quốc yêu thương, Tổ quốc Việt Nam ngàn đời vẻ vang…”!


…”Hôm nay…”, như lời của bài ca, chính là ngày Ba mươi tháng Tư, năm Một ngàn Chín trăm Bảy mươi lăm. Ngày đất nước ta sạch bóng quân xâm lược và bè lũ tay sai. Ngày Tổ quốc và giang sơn thu về một mối để dân tộc ta ca khúc khải hoàn, bước sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của Độc Lập, Tự Do, ấm No, Hạnh Phúc. Mà để có nó, biết bao thế hệ người Việt Nam, trong đó có những người lính chúng tôi, đã phải đổ biết bao máu xương mới giành lại được.


 


Thị xã Hà Tĩnh, 11/11/2004 – 20/3/2005


Vương Khả Sơn


Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Tĩnh


ĐT: 091 2487840


(Nguyên chiến sỹ C4-D9, C2-D8 & C3-D7,


Trung đoàn Bộ binh 271 anh hùng


Quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ)


Các bạn downloads toàn bộ cuốn hồi ký Tại đây


 

Loading...

TIN LIÊN QUAN