Trần Bảo Tín người làng Khải Mông, nay là xóm An Hồng, thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh năm 1483, trong một gia đình làm nông dưới chân núi Hồng thuộc hạ lưu sông Lam. Tuổi nhỏ rất thông minh. 14 tuổi đã biết thảo tờ trình thay dân làng dâng lên vua, 18 tuổi đậu thi Hương. Năm Tân Mùi (1511) đời Lê Tương Dực, Trần Bảo Tín đỗ Đệ nhất giáp cập đệ – Đệ nhị danh. Tên tuổi của ông hiện nay đang được ghi trên văn bia Quốc Tử Giám, Hà Nội .

        Sau khi thành danh, Trần Bảo Tín làm quan dưới triều Lê, giữ chức Tả Thị lang Lại bộ (đảm việc tuyển chọn quan chức, sắp xếp bộ máy triều đình). Khi đang giữ chức quan, ông là người mẫn cán với công việc, có phẩm hạnh cao, ý chí cương thường, trung thành với triều đình, không màng danh lợi. Năm 1527 nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, vẫn tin dùng Trần Bảo Tín, nhưng ông đã nói: “Tôi trung không thờ hai chúa”.


Ông bất hợp tác với nhà Mạc, rũ bỏ quan trường trở về quê ở làng Khải Mông ẩn dật. Khi về đến quê nhà, làng Khải Mông thời kỳ đó còn là những bãi cát bồi của hạ lưu sông Lam, do đầm lầy, cây cối rậm rạp, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán rồi bão lụt mất mùa, bệnh tật triền miên, cùng với các cuộc nội chiến Lê – Mạc, tranh giành quyền lực, nồi da nấu thịt luôn luôn diễn ra, đã làm cho cuộc sống dân lành tiêu điều. Thấy cảnh làng xóm nghèo đói, Trần Bảo Tín bắt tay ngay vào việc phục dựng, cải cách nền kinh tế nông thôn ở quê hương mình.


Bước đầu ông đã chiêu binh lập trại trên núi Hồng, xây dựng phòng tuyến để che chắn không cho nhà Mạc tràn xuống phía Nam. Đội quân, dân binh của ông có khoảng 100 người, hàng ngày rèn luyện võ thuật, nhặt đá núi kè luỹ, rèn giáo mác làm vũ khí, xây dựng đồn trại phòng thủ. Dựa vào thế núi, thế sông và lòng dân, Trần Bảo Tín đã làm cho nhà Mạc không mở rộng được quyền lực, quản lý được vùng đất Hoan Châu, dân làng không phải lo bắt lính đi phu, không phải thuế má, tạp dịch, tập trung vào việc sản xuất.


Để tiếp tục cải cách vùng nông thôn nghèo, bước đầu ông cho thiết lập lại hệ thống đò ngang ở bến đò  Phong Phạn để giúp nhân dân vượt sông Lam được an toàn; Khai thông con đường từ bến đò vượt qua chân núi Hồng giáp với đường thiên lý; Mở rộng con đường ven sông từ Gia Lách đi bến Giang Đình xuôi về Hội Thống. Trên bến đò vượt sông, ông còn mở thêm chợ Lách, thu nhận lâm hải sản để trao đổi giữa miền xuôi và miền ngược, từ miền ngoài vào miền trong. Do thông thương đường sông, đường bộ, chợ, bến đò, nên việc giao lưu đi lại của nhân dân ngày càng thuận tiện, hàng hoá muôn nơi đổ về trù phú.


Muốn sản xuất tốt cần cải tiến công cụ lao động, ông cho mở lò rèn sắt vừa cung cấp vũ khí trang bị cho các dân binh chống giặc, vừa đúc lưỡi cày, cuốc, thuổng, dao rựa phù hợp với địa hình sản xuất để khẩn hoang khai phá vùng đất ngập mặn. Nhờ có công cụ tốt, được cải tiến, dân làng đã khai hoang được cả vùng đất rộng lớn dưới chân núi Hồng. Kết hợp với nghề rèn, ông  tận dụng gỗ, mây, tre trên núi Hồng để phát triển nghề mộc, đan lát, mở nghề gốm sứ ven sông Lam để sản xuất đồ dùng cho dân sinh.


loading...

Ngành nghề phát triển, đường sá lưu thông, hàng hoá không chỉ đủ cung cấp cho dân trong vùng mà còn được chuyển đổi buôn bán xuống biển, lên ngàn, khắp cả mọi miền quê. (Trên vùng đất Xuân An nay còn giữ lại dấu vết làng mộc, làng gốm sứ ven sông).


Song song với việc phát triển kinh tế, Trần Bảo Tín chú trọng đến việc khai trí dân sinh. Buổi đầu ông mở lớp học ngay tại nhà dạy chữ cho con cháu trong gia đình. Việc dạy dỗ của ông ngày càng có uy tín, tiếng đồn lan xa, dân làng cả vùng đến tận nhà gửi con em theo học. Để đáp ứng yêu cầu, ông đã mở rộng trường, tuyển thêm người dạy, học sinh đến ngày càng đông.


Về sau dân làng đặt tên: “Trường quan Bảng Bảo Tín”. Trường không chỉ dạy chữ mà còn truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, trồng trọt và chăn nuôi nhằm đem tri thức, hiểu biết cải tạo một vùng quê nghèo đói ở vùng đất Nghi Xuân. Trường học của ông còn góp phần đào tạo cung cấp  nhân tài ra giúp dân, giúp nước.


Song song với việc phát triển dân sinh mở mang dân trí, để chống chọi với dịch bệnh ở vùng đất hoang hoá sình lầy, đặc biệt là nạn sốt rét và dịch tả, ông đã mở hiệu cắt thuốc trị bệnh. Ngoài những bài thuốc quý, sách thuốc quý do những ngày tháng làm quan ở trong triều ông thu thập được đem về áp dụng để chữa trị, ông còn tập hợp những người làm nghề cắt thuốc trong làng thành một tổ hợp tác y dược. Dịch bệnh ốm đau trong làng ngày càng giảm bớt, tên tuổi tài năng chữa bệnh của nhóm y dược do ông đứng đầu càng nổi tiếng.


Để có thuốc trị bệnh giúp dân lành, ông còn thành lập một nhóm người chuyên lên núi Hồng khai thác dược liệu. Dược liệu trên núi Hồng phong phú, nhiều loại quý hiếm, tổ khai thác không chỉ cung cấp đủ cho dân địa phương, còn được sấy khô chế biến vận chuyển bán ra các vùng. Theo các tài liệu nghiên cứu về y dược người ta cho rằng: đây là hình thái y dược mang tính tổ chức hợp tác đầu tiên được Trần Bảo Tín thành lập ở vùng nông thôn.


Hiện nay chúng ta chưa biết chính xác ông mất năm nào, nhưng ông sống thượng thượng thọ. Sau khi ông mất, nhân dân trong vùng đã tôn thờ ông là “Bảo quốc trung trinh Thượng đẳng thần”, lập đền thờ và xây lăng tẩm cho ông trên núi Cù Sơn tại quê nhà.


Những ngày về ở ẩn, sống ở làng Khải Mông (thị trấn Xuân An ngày nay) dẫu là những năm tháng từ quan, Trần Bảo Tín đã không để lãng phí tài năng, sức lực, dốc hết tâm huyết, mở mang dân trí, phát triển kinh tế, cải cách vùng nông thôn nghèo đói thành miền đất phồn thịnh, trù phú.


Thiết nghĩ trong bước đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ngày nay, để tiến hành cải cách nông thôn ở những vùng khó khăn, tiến hành xoá đói, giảm nghèo, tên tuổi, công lao Trần Bảo Tín cần được đề cao và ngưỡng vọng.


Nguyễn Xuân Bách

CANA

Loading...

TIN LIÊN QUAN