Chừng 8 giờ, trong mấy ruộng mía, bọn địch vẫn la ó, đi lại, nấu nướng gì đó… vì thấy khói toả lên. Tôi thấy Lương vừa đứng dưới hầm cảnh giới, vừa ngủ gật. Tôi liền bảo: "Thôi, cậu xuống hầm ngủ một lúc đi, lát nữa, tớ gọi thay gác" (ở chiến trường, bao giờ cũng vậy, lúc chờ địch vào là lúc thần thần kinh cực kỳ căng thẳng do bị ức chế, nên ai cũng buồn ngủ).

 


 


 Hơn 9 giờ, tôi cũng bắt đầu cảm thấy hai mắt díp lại, nặng trĩu. Biết rằng, chỉ cần một lúc nữa là tôi sẽ ngủ quên. Cúi xuống hầm, tôi gọi Lương dậy thay gác cho mình. Lương dụi mắt, đứng dậy thay tôi. Trước khi chui xuống hầm, tôi còn dặn với: “Phải thật cảnh giác, hôm nay không chừng chúng nống ra. Ngủ quên là chết đó!”


Tôi ngồi dựa lưng vào thành công sự. Cơn ngủ kéo đến lúc nào…


Bỗng, ầ…m… Một tiếng nổ làm rung chuyển căn hầm. Mùi khói đạn phả vào nồng nặc. Tiếp theo, có nhiều tiếng nổ khác cùng tiếng AK lẫn AR15. Tôi chụp vội B40 định đứng dậy siết cò, chợt nghĩ nhanh: “Đứng dậy lúc này có thể bị ăn đạn!” Tôi rút vội quả lựu đạn “da láng” của Mỹ, rút chốt, thảy qua cửa công sự về phía trước. Lựu đạn nổ. Tôi bật dậy chụp vội B40, nhắm hướng địch siết cò. Quả đạn lao đi. Lương cũng xả trung liên vào bọn địch tháo chạy phía trước. Tôi xoay tay, đẩy quả đạn thứ hai vào nòng, nhảy lên công sự nhắm tốp địch đang chạy thục mạng vào phía rặng trâm bầu, kéo cò. Quầng lửa da cam và khói quen thuộc trùm lên che khuất tốp lính. Tôi lắp tiếp quả thứ ba, lấy góc bắn 45 độ nhắm vào hướng bọn địch đang tháo chạy trở lại. Viên đạn lao vút đi, tiếng nổ nghe rất xa. Lúc này bắn chỉ để uy hiếp, vì bọn tàn quân đã tháo chạy vào gần ruộng mía. Đang mải nhìn về phía bọn lính, bỗng một tiếng nổ lớn, tiếp theo là bùn và cỏ bàng (cói) bắn vào người. Tôi chẳng hiểu gì cả. Sau mới biết, đó là tiếng nổ của quả cối 60 ly (cối tép), được khẩu đội Nguyễn Viết Kỷ và Nguyễn Văn Tý bắn lên. Do lún bàn đế nên quả đạn bị rút tầm, rơi nổ gần chỗ tôi. May mà đạn rơi xuống bưng nếu không, tôi đã “anh dũng hy sinh” vì nó. Sau trận ấy, tôi được Kỷ kể lại rằng, khi bắn lên, do không lắp liều phụ vào nên trông rất rõ đường đi của viên đạn. Vì vậy, khi thấy viên đạn cối rơi ngay chỗ tôi đứng, Kỷ cố sức la hét để tôi có thể nghe thấy. Nhưng vì tôi vừa bắn xong ba quả B40, tai đang ù đặc. Vả lại, lúc ấy tiếng súng các loại còn rền vang, làm sao tôi có thể nghe được tiếng la của Kỷ để tránh!


Khói tan… Bây giờ, tôi mới kịp nhìn xuống dưới chân mình. Khúc cẳng chân của một thằng lính nguỵ bị cắt cụt từ đầu gối còn mang giày trận và dính cả ống quần, hất lên công sự tôi do hơi B40. Phía trước chừng ba mét, năm xác chết đen đúa đè lên nhau, cách đó vài mét, có hai xác nữa. Mấy khẩu AR15 văng ra, có khẩu gẫy nát.


Thì ra, lúc tôi chợp mắt, Lương thay gác, đã ngủ quên. Bọn địch mò vào ngay chân công sự mà Lương không hề hay biết. Chỉ cần vài bước nữa là chúng sẽ thấy hầm chúng tôi. Chắc chắn chúng tôi sẽ được “ăn” lựu đạn. May mà chỗ đấy rất bất ngờ với địch. Mặt khác, chúng tôi nguỵ trang rất khéo nên chúng chưa kịp phát hiện. Nhưng khả năng nhiều hơn mà tôi nhận định sau đó là bọn lính sư 23 nguỵ, quen tác chiến ở vùng núi, khi chạy về đồng bằng, chúng không có kinh nghiệm, nên không phát hiện ra chúng tôi. Tiếng nổ ấy là do quả B40 của Vũ Duy Tòng bắn đến để giải cứu cho tôi và Lương. Sau trận ấy, Tòng cho biết: Lúc thấy địch vào, cứ tưởng chúng tôi đã biết nhưng còn chờ cho vào gần mới nổ súng. Đến lúc chúng vào sát chân công sự rồi, vẫn không thấy động tĩnh gì, Tòng đoán chúng tôi ngủ quên nên đã giáng quả đạn ấy để tiêu diệt tốp lính. Cậu ta cho biết rất có thể sức nóng và sức ép của nó sẽ làm chúng tôi bị thương, nhưng không còn cách nào khác. Quả B40 định mệnh ấy đã kết liễu 7 tên lính của sư đoàn 23 nguỵ để cứu sống tôi và Chu Văn Lương.


Tôi viết lại kỷ niệm này như một sự tri ân đối với đồng đội. Và một điều quan trọng khác là bài học về sự gắn bó, sẵn sàng chia lửa cho nhau ở những thời khắc gian nan và ác liệt nhất của những trận đánh. Đó là yếu tố làm nên chiến thắng và tình chiến hữu máu thịt.


Trước đó, trong một trận đánh khác, chúng tôi đã có cuộc đọ súng với một đơn vị khác (cũng của Sư đoàn 23 nguỵ). Cả ngày hôm đó, chúng sợ không dám nống ra. Mãi đến hơn 14 giờ, mới dò dẫm men theo lộ 21 lên hướng Lương Hoà hòng thực hiện kế hoạch giải toả cho căn cứ này. Đại đội tôi nhận nhiệm vụ khoá đuôi, vu hồi. Địch đã tiến được khá xa mà không thấy động tĩnh gì cả. Chúng trở nên dè dặt hơn, tốc độ hành quân chậm lại. Có quãng chúng co cụm, không rõ để làm gì. Chờ cho tốp đi đầu lọt vào đội hình phục kích, đại đội một và hai nổ súng chặn đánh. Chúng tôi xung phong khoá đuôi. Từ chỗ xuất kích đến đội hình quân địch khoảng 300 mét. Từ xa, các loại vũ khí phát huy tối đa hoả lực. Cối 82 và 60 dội xuống. Tiếp theo là B41, trung liên, B40, AK đồng loạt quất vào đội hình quân địch. Tôi đã bắn hết 4 trái B40 vào bọn đang tháo chạy. Quãng đường xuất kích khá xa, phải băng qua một quãng bưng lại vừa xuất kích vừa hô xung phong nên ai nấy đều muốn đứt hơi. Lúc này trời đã chạng vạng tối. Tôi vừa băng lên thì chợt thấy một khu lăng mộ trước mặt, liền chạy ngay đến đấy để lấy chỗ tránh đạn và đón đợi bọn địch tháo chạy trở lại. Đánh mắt sang bên phải chếch lên phía trước, tôi chợt phát hiện một tốp 7- 8 bóng đen đang lao tới. Tôi vội kê súng lên bờ gạch của ngôi lăng, bình tĩnh kéo búa đập xuống, chuẩn bị. Chờ cho mấy bóng đen đó vào gần một đoạn nữa, tôi nghếch nòng B40, há miệng, siết cò. Tiếng nổ chói tai, quả đạn lao vút đi. Trong khoảnh khắc một quầng lửa màu da cam nhoáng lên kèm theo một tiếng nổ lớn phía trước tốp người đang chạy. Tôi bỗng nghe tiếng hét, giọng Nghệ Tĩnh: “Đừng bắn! Đừng bắn! Bộ đội đây!”. Tôi giật mình hoảng hốt: “Chết rồi! Mình bắn nhầm vào đồng đội!”. Tôi hỏi lớn: “Có ai làm sao kh…ô..ông?” Có tiếng đáp: “Kh…ông”. Rất may, trời nhá nhem tối nên tôi căn cự ly không chính xác, quả đạn nổ phía trước mặt tốp người kia khá xa. Nếu không chắc tôi đã thui chín mấy đồng đội của mình rồi! Tỉếng trả lời đó là của Đinh Văn Luận, đại đội phó, người mà tôi đã kể về chi tiết rơi từ trên cây cao xuống khi chúng tôi đánh bốt Rạch Nhum (Tân Phú) hồi năm 1973. Luận cũng có mặt trong đội hình của tốp người này. Tôi chạy ngay đến chỗ họ. Không ai làm sao cả. Không hiểu sao lúc đó, tự nhiên, như có ai bảo tôi bắn sớm? Cứ như mọi lần, chờ họ vào thêm một đoạn nữa mới nổ súng thì chắc chẳng còn một ai. Thật hú vía!


loading...

Trận đánh này có thêm một tình huống rất buồn cười. Đó là một đồng chí của ta đuổi theo một tên địch. Khoảng cách hai người chỉ chừng 25 – 30 mét nhưng không làm sao đuổi kịp, bắn mãi mà không hề trúng. Đồng chí ấy chạy thì nó chạy. Đồng chí ấy đi, nó cũng đi. Lúc dừng, cả hai cùng dừng. Thằng lính không còn đủ sức để xách súng nữa nên kéo lê trên mặt đất. Anh chiến sỹ của ta đưa súng lên bao nhiêu lần để ngắm bắn mà cũng không hề trúng. Vì cả hai đã mệt đứt hơi. Hệt như trò mèo đuổi chuột. Đuổi mãi, đuổi mãi, khi thấy đã quá xa, tên lính cũng chạy về gần tới bốt Rạch Mương, đồng chí ấy đành phải quay lại. Nó cũng ngoái nhìn rồi thất thểu bước về hướng bốt.


Đêm 27/4, chúng tôi nhận lệnh vượt sông Vàm Cỏ Đông để phối hợp với với Sư đoàn 5 và Đoàn 232 đánh chiếm Chi khu Thủ Thừa, thị xã Tân An và Chi khu Bến Lức, nhằm khai thông hành lang cho đại quân tiến về Sài Gòn. Mục tiêu và nhiệm vụ của Đoàn 232 trong chiến dịch Hồ Chí Minh là đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát và Biệt khu Thủ đô để cùng với các quân đoàn bạn hợp điểm tại Dinh Độc Lập vào trưa 30 tháng 4.


Khoảng 10 giờ sáng ngày 28 tháng 4, chúng tôi nghe nhiều loạt tiếng nổ lớn từ hướng sân bay Tân Sơn Nhất. Phía ấy, nhiều cột khói đen lớn bốc cao, rồi cả một vùng trời bị che phủ bởi khói lửa. Đơn vị báo tin chiến thắng. 17 giờ cùng ngày, chúng ta đã dùng một phi đội năm chiếc chiến đấu cơ A37 cướp được của địch do một trung uý phi công nguỵ phản chiến dẫn đầu, dội bom Tân Sơn Nhất, làm tê liệt hoàn toàn hệ thống sân bay này (Sau này chúng tôi mới biết đó là trung uý phi công Nguyễn Thành Trung, một chiến sỹ tình báo của ta được gài vào hàng ngũ địch). Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc, không quân ta đã xuất trận trực tiếp dội bom vào đầu quân nguỵ và lập công xuất sắc, làm tiêu ma những hy vọng cuối cùng của chúng. Chính từ thời khắc lịch sử ấy trở đi, chế độ nguỵ quyền Sài Gòn rơi vào hoảng loạn, dẫn đến kết cục sụp đổ nhanh chóng, không gì cứu vãn nổi.


Chúng tôi không được vinh dự có mặt ở Sài Gòn trong ngày 30/4/1975 bởi mệnh lệnh cấp trên giao phải ở lại chiến trường Long An để cùng đơn vị bạn bảo vệ hành lang cho đại quân tiến đánh Sài Gòn và làm nhiệm vụ quân quản.Trong những ngày 28, và 29 tháng 4 vừa chiến đấu, chúng tôi vừa bám sát tin chiến sự từng giờ. Đài tiếng nói Việt Nam liên tục đưa tin chiến thắng và diễn biến chiến dịch.


Ngày 30/4/1975. Chín giờ 25 phút, Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh tuyên bố xin ngừng bắn. 10 giờ 45, phân đội thọc sâu của quân đoàn II tiến vào Dinh Độc Lập, bắt sống toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn, buộc Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng không điều kiện. 11giờ 30 phút, lá cờ Tổ quốc thắm máu bao thế hệ người Việt Nam yêu nước tung bay trước cửa nhà chính của Dinh Độc Lập. Giờ phút lịch sử thiêng liêng của cả dân tộc cũng như mỗi người lính chúng tôi đợi chờ hàng mấy mươi năm đã đến. Một cảm xúc nghẹn ngào, khó tả dâng trào trong trái tim của mỗi chúng tôi – những người lính đã trải qua những năm tháng ác liệt đạn bom, may mắn còn sống và có mặt trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, chứng kiến một chế độ thối nát, ôm chân ngoại bang trong giây phút giãy chết.


Toàn thắng! Thế là toàn thắng! Chúng ta đã thắng thật rồi! Hoà bình rồi! Hết chiến tranh rồi! Chúng tôi hướng nòng súng lên trời xả đạn, đón chào chiến thắng, rồi ôm nhau khóc, cười như trẻ thơ, như ngây dại. Chiến thắng đến quá nhanh. Mặc dù đã biết trước, vậy mà vẫn cứ bàng hoàng, ngây ngất. Một niềm vui không có ngôn ngữ để diễn tả. Không có lời nào để thể hiện hết tâm trạng của những người lính chiến đã trải qua mưa bom bão đạn và chịu nhiều cay đắng như chúng tôi. Vậy là chiến tranh đã chấm dứt. Đất nước đã được giải phóng! Khát vọng hoà bình đã thành hiện thực! Mình được sống rồi! Mẹ ơi! Con được sống rồi! Chỉ nay mai thôi, chúng con sẽ được sum họp với gia đình sau bao năm trời đằng đẵng xa cách. Không ai bảo ai, nhưng ai cũng đều nghĩ như vậy.


Nhưng rồi cũng chính trong những giây phút bàng hoàng, hả hê, sung sướng đến  ngây ngất ấy, chúng tôi chợt đau đớn, ngậm ngùi, tiếc thương nghĩ về đồng đội – những người đã hy sinh. Rất nhiều người vừa mới ngã xuống trước giờ toàn thắng… Có niềm vui chiến thắng nào lại không phải trả giá bằng máu và bằng nỗi đau mất mát!?


Hơn ai hết, là những người trong cuộc, chúng tôi biết cái giá phải trả cho ngày toàn thắng, cho độc lập tự do là không thể nào tính nổi! Hiện thực khách quan ấy, chúng ta mặc nhiên phải thừa nhận. Mẹ Việt Nam vô cùng đau đớn, nhưng cũng hết mực tự hào về những đứa con của Mẹ, đã mấy mươi năm kiên cường bền bỉ cầm súng đánh giặc và dũng cảm hy sinh không tiếc máu xương cho độc lập tự do của Tổ quốc mình. Chúng ta đã làm tròn sứ mệnh mà lịch sử dân tộc và tiền nhân giao phó, đã đi trọn con đường mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã vạch ra: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào…”  để  “Bắc Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!”.


 


Hết phần IV (7)


Còn nữa….


Phần cuối VĨ THANH.

Loading...

TIN LIÊN QUAN