Trận công đồn năm ấy lùi vào quá khứ đã gần 1/3 thế kỷ. Nhưng kỷ niệm về nó thì vẫn vẹn nguyên và thường trực trong ký ức của mỗi chúng tôi. Nó luôn nhắc chúng tôi phải sống thế nào cho khỏi tủi hổ vong linh của Định cũng như biết bao đồng đội khác đã anh dũng hy sinh không tiếc máu xương mình cho độc lập tự do của đất nước này.


         


       Chúng tôi đã đề nghị lên cấp trên xét truy tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho Định. Nhưng rồi các chiến dịch và những trận đánh ác liệt và thần tốc cứ nối tiếp nhau, cuốn đi như cơn lốc cho đến ngày 30/4/1975. Đến bây giờ, sau 31 năm kể từ ngày đi vào cõi bất tử, Định vẫn chưa có được danh hiệu cao quý đó để xứng đáng với tầm vóc hy sinh to lớn của Anh.


Sau trận ấy, chúng tôi họp củng cố rút kinh nghiệm, học tập gương chiến đấu, hy sinh quả cảm của Định, phát động lòng căm thù địch, quyết tâm trả thù cho Định và các đồng chí đã hy sinh đồng thời chuẩn bị cho các trận đánh nối tiếp.


 Ngày 9 tháng 5 năm1974, vào một buổi chiều đầu mùa mưa. Khoảng 16 giờ chúng tôi nhận lệnh xuống kinh xáng Trà Cú vùng đông nam Đức Huệ điều nghiên địa hình để đưa quân xuống, chuẩn bị mở trận đánh mới ở địa bàn này.


Đoàn chúng tôi gồm lính của các đại đội 1,2,3,4 và trinh sát tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Văn Hảo, tiểu đoàn phó, chỉ huy. Đại đội tôi có anh Đinh Văn Luận, đại đội phó (Thanh Xuân, Thanh Chương), Lê Văn Nhâm (Phúc Lộc, Can Lộc) Hồ Hữu Danh (Sơn Hàm, Hương Sơn, đã mất năm 2001 do nhồi máu cơ tim) Nguyễn Văn Quý (Tân Kỳ – Nghệ An) và tôi. Tiểu đoàn lúc ấy, có anh Thạch (Hưng Nguyên – Nghệ An) y tá tiểu đoàn, Nguyễn Văn Đông (Trà Vinh), thiếu uý, trợ lý tác chiến tiểu đoàn, và một số đồng chí khác, tôi không nhớ hết. Tất cả khoảng trên 20 người. Chúng tôi lầm lũi đi trong mưa lất phất và không gian ảm đạm khác thường.


Hơn một tiếng đồng hồ sau thì hết mưa. Chúng tôi tiếp tục nhắm hướng kinh xáng đi tới, sau khi đã nghỉ giải lao. Khoảng 10 giờ đêm, chúng tôi vượt qua cây cầu Sắt. Nơi đây, bọn địch thường xuyên phục kích. Bộ đội và du kích nhiều lần đụng địch chỗ này. Mọi người hết sức cảnh giác, bám lên từng bước rồi cuối cùng cũng vượt qua được cây cầu ấy. Càng về khuya, càng khát vì bi đông mọi người đã cạn. Mùa khô nên cả chặng hành quân không một hố bom nào có nước. Ai nấy đều mong đến chỗ có nước để được uống thoả thích. Mười hai giờ, chúng tôi đến một vị trí mà theo Đông, thì nơi đây có mấy hố bom lớn về mùa khô vẫn không cạn. Địa hình nơi này Đông rất quen thuộc. Chúng tôi được lệnh tạm nghỉ để tìm nước. Đông nhanh chóng dẫn mấy người chạy đi tìm mấy hố bom đó, trong khi chúng tôi đặt ba lô ngồi nghỉ để chờ. Tất cả giãn ra để cảnh giác pháo “đĩ” ban đêm có thể bất ngờ lao tới. Chừng 10 phút. Bỗng một ánh chớp rồi tiếng nổ chói tai vang lên từ hướng anh Đông và mấy người vừa chạy tới. Chúng tôi biết ngay, họ đã “dính” mìn clâymo. Mấy người lao đến nơi có tiếng nổ, dìu được Đông ra tới gần chỗ chúng tôi. Vừa đến giữa ruộng, bỗng tiếng súng AR15 và M79 bắn vào nơi phát ra tiếng nổ ban nãy. Mọi người đành để Đông nằm lại giữa ruộng và giãn ra. Đông rên lớn vì đau quá do bị thương nặng và sợ bị bỏ rơi. Lúc này, địch bắt đầu nhả đạn dữ dội vào hướng chúng tôi. Mọi người, trong đó có tiểu đoàn phó Hảo cùng anh em còn lại lùi ra phía sau. Địch tập trung hoả lực bắn mạnh ra sau, rồi gọi cối, pháo bắn theo hướng rút của họ. Còn lại ở trận địa là anh Luận, Nhâm, Danh, Thạch – y tá tiểu đoàn và tôi. Tôi nói với Luận: “Bây giờ anh là chỉ huy cao nhất ở đây, anh phải lệnh cho anh em vào cứu Đông chứ không thể bỏ anh ấy lại”. Luận đang chần chừ. Tôi lên cò súng, bảo: “Thôi, anh giữ B40 giúp để tôi vào đưa Đông ra. Nếu địch phát hiện ra và bắn, thì giá nào anh cũng phải bắn trả B40 để yểm hộ tôi. Nếu anh không bắn, tôi mà thoát chết ra là tôi bắn anh đó!” Luận: “ừ , ừ… Mày vào đi, tao yểm hộ cho”. Tôi quay sang Thạch: “Thôi, tớ và cậu vào đưa Đông ra!”. Trước sự cương quyết của tôi, Thạch vững dạ hơn rồi cùng tôi chạy lom khom vào chỗ Đông nằm. Thấy chúng tôi đến, Đông thều thào: “Ai đó?”. “Sơn và Thạch đây! Anh yên tâm chúng tôi đưa anh ra!”, tôi nói. Đông mừng lắm: “Ôi! Cảm ơn Sơn và Thạch nghen! Cảm ơn các đồng chí!”. Tôi ghé sát tai Đông nói nhỏ: “Chúng tôi dù chết cũng không bao giờ bỏ đồng đội bị thương cả. Anh cố gắng nhé! Đừng rên. Nếu rên, bọn địch nghe thấy chúng ta sẽ không thoát đâu!”. Đông nén đau, im lặng…


Tôi và Thạch cố gắng kẻ nách, người chân đỡ Đông lên. Nhưng Đông rất nặng (Đông vốn cao to), hơn nữa, do bị thương nặng nên khi chúng tôi nhấc lên, anh cứ oặt người xuống vì đau. Loay hoay một lúc vẫn không đưa Đông đi được. Tôi bảo Thạch: “Thôi, cậu bỏ ra”. Tôi luồn một tay dưới cổ và một tay dưới khoeo chân Đông gắng sức lấy đà nhấc nổi lên rồi lom khom chạy ra chỗ Luận và mấy người đang chờ sau một bờ đất. Thạch xách AK bám kịp tôi. Thạch vốn rất cao to, khoảng 65- 68 kg, trong khi tôi nhỏ dẻ và yếu hơn Thạch nhiều. Không hiểu sao lúc ấy, tôi bế nổi Đông chạy ra được như vậy? Thật kỳ lạ!


Vừa đặt Đông nằm xuống thì địch tung pháo sáng lên. Tiếp theo là các loại súng thi nhau đổ đạn về phía chúng tôi. Nhưng chúng không dám xung phong. Gần đó có một hố bom, mọi người cùng dìu Đông xuống rồi lợi dụng ánh hoả châu băng bó lại cho anh. Đông dính mìn clâymo. Phần trước cơ thể bị bi găm lỗ chỗ. Anh bị thủng bàng quang và nhiều nơi khác. Máu bê bết khắp thân thể. Đạn địch dần dần chuyển làn, nổ phía sau nơi chúng nghi anh em mình chạy ra đó. Chờ dứt tiếng súng bộ binh, tôi nói với Luận: “Bây giờ, anh cho người đi chặt tre để cáng Đông”. Luận cử Nhâm. Nhâm chần chừ, không dám đi. Tôi bực quá, mắng Nhâm (mặc dù tôi với Nhâm là đồng hương cùng huyện, nhập ngũ một ngày). Nhâm đành mang dao găm và súng đi. Khoảng 20 phút sau, cậu ta quay về tay không. Nhâm vào chặt tre, sợ đụng phải địch nằm trong đó nên quay lại. Chúng tôi lại mắng vào mặt cậu ta rồi bắt phải quay lại chặt bằng được tre để cáng Đông. Chừng 40 phút sau, mới thấy Nhâm lò dò kéo ra được một ngọn tre khô. Chúng tôi hỏi: “Sao lâu thế?” Nhâm hổn hển: “Không dám chặt …vì sợ địch nghe thấy nên dùng dao gọt theo thân tre cho… đứt rồi kéo ra”. Róc vội gai tre, chúng tôi nhanh chóng buộc võng rồi thay nhau cáng Đông. Một người đi trước dẫn đường, bốn người còn lại thay nhau, hai người cáng, hai người đi sau mang hết đồ đạc cho họ. Tất cả quay lại theo đường cũ. Gần đến cầu Sắt, chúng tôi giật mình vì nghe thoang thoảng trong gió mùi thuốc lá “Ru Bi”. Tất cả im lặng, khẽ đặt Đông nằm xuống. Tôi và Nhâm bám lên, chúng tôi trườn rất nhẹ đến gần sát mọi người rồi mà vẫn không ai hay biết gì cả. Tôi nhìn qua ánh sáng của điếu thuốc lá, thấy trên khuôn mặt là vành mũ tai bèo. Tôi bấm Nhâm: “Anh em mình!”. Tôi gọi trong khi khoá cò B40 đã mở: “Có phải anh em mình đó không?” Họ nhận ra tiếng tôi rồi đồng thanh trả lời “Phải! Phải!”. Tất cả ùa lại chỗ tôi và Nhâm. Mọi người ríu rít hỏi tình hình như thế nào? Tôi nói sơ qua, rồi bảo họ thay cáng cho anh em vì đã quá mệt, đồng thời khẩn trương về cứ vì trời sắp sáng. Thì ra sau khi bọn địch nổ súng, tất cả rút lui, về đến đây thì gặp nhau rồi ngồi ngóng chúng tôi. Họ cho rằng, chúng tôi đã chết trong đó rồi. Gần đến cứ, cách chừng 3 km, lúc này, Đông rên rất dữ và giãy đạp mạnh làm anh em khiêng suýt ngã. Bỗng, anh bật mạnh rồi rơi xuống đất, nằm thẳng đừ, mắt trợn ngược. Anh giật giật mấy cái nữa rồi tắt thở. Đông hy sinh lúc gần 5 giờ sáng ngày hôm đó. Chúng tôi vuốt mắt cho anh rồi tiếp tục bế lên võng, khiêng về cứ.


Về đến Hội Đồng Sầm lúc 6 giờ sáng. Chúng tôi báo cáo sơ qua tình hình với tiểu đoàn rồi làm thủ tục an táng Đông trên một gò đất cao của cứ. Tất cả cúi đầu mặc niệm anh – người đồng chí thân thiết đã ra đi… Xót thương Đông quá! Anh mới đi học ở một trường quân sự tại Liên Xô về, vừa bổ sung vào tiểu đoàn 7 được mấy tháng nay. Cách đó gần một tháng, gia đình dưới Trà Vinh gửi lên cho anh một gói quà, trong đó có chiếc đồng hồ SEIKO5 màu trắng. Anh luôn đeo nó trên tay và xem như kỷ vật vô giá. Chúng tôi đem những tư trang quý của anh gói lại cẩn thận rồi chuyển lên cấp trên để gửi về gia đình Anh…


Hôm ấy, sau khi chôn cất Đông xong, quá mệt mỏi và buồn ngủ, tôi đặt mình xuống làm luôn một giấc đến hơn 11 giờ trưa, mọi người mới gọi tôi dậy ăn cơm để chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới…


Số là, đêm hôm đó, sau khi vướng mìn, bị chúng bắn, mọi người phân tán. Cậu Lam, anh nuôi (quê Nam Hà) chạy thế nào mất phương hướng, lọt vào chỗ địch phục kích, bị chúng bắt sống. Theo tin tình báo, Lam không chịu nổi đòn tra nên đã khai ra chỗ đóng quân và trận địa phục kích đánh tàu của ta. Biết vậy nên một mặt, tiểu đoàn lo chuẩn bị phương án chống càn, mặt khác lệnh cho đại đội 3, cử người đi gọi trung đội đang phục kích đánh tàu ở trận địa gần Gò Nổi. Chỉ huy đại đội lại giao nhiệm vụ đó cho tôi.


Tôi phải cắt bưng đến trận địa để gọi trung đội phục kích đánh tàu nói trên khẩn trương ngay trong đêm phải rút khỏi vị trí. Nếu không, ngày mai, địch sẽ đổ quân đánh úp họ. Bốn giờ chiều, tôi bắt đầu xuất phát. Từ chỗ tôi đến vị trí trung đội ấy khoảng 10 km đường bưng, sình lầy. Tôi phải cắt bưng, men theo bờ sông và vượt qua 6 con rạch (mỗi rạch rộng chừng 15 đến 20 mét). Tôi rẽ cỏ bàng cao đến ngang đầu, vượt qua tất cả. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại khoẻ đến như vậy? Gần 11 giờ đêm mới đến nơi. Tôi lay các đầu võng, anh em đều ngủ say. Tôi nói với Lưu Xuân Tiết ,Trung đội trưởng, quê xã Hoàng Quế, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: “Lệnh của tiểu đoàn, cho anh em khẩn trương ngay lập tức rút khỏi vị trí phục kích. Ngày mai địch sẽ càn vào. Lý do, một đồng chí của ta bị địch bắt, tra tấn, đã khai báo hết. Các đồng chí chỉ mang theo súng và cơ số đạn chiến đấu, còn lại chôn giấu hết”. Mọi người hối hả, khẩn trương vào việc. Khoảng 30 phút sau, tất cả xong xuôi và đã sẵn sàng hành quân. Tôi lại đi trước dẫn đường. Vì đã thông báo cụ thể đường đi nên mọi người chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng vượt bưng và 6 con rạch ấy. Rất may là vùng này không có cá sấu và không gặp rắn độc. Nếu không, tôi đã làm mồi cho chúng rồi.


Chúng tôi trở lại đúng lối mòn tôi vừa đi lúc nãy và kịp trở về đến nơi lúc gần 5 giờ sáng. Mọi người không kịp nghỉ. Tất cả lao vào chuẩn bị công sự để chống càn…


Bảy giờ sáng, đã nghe tiếng tàu càn rì rì ở ngoài sông Vàm Cỏ. Bất thần,12,7 ly trên tàu bắn như mưa vào hướng chúng tôi. Tôi nhớ lúc ấy, cậu Sơn quê Nghi Xuân (Hà Tĩnh) đang đứng trên chiếc ghe, một viên 12,7 ly bắn bay mất xương hàm dưới. Sơn bị thương nặng, được băng bó kịp thời rồi nhanh chóng chuyển ra tuyến sau. Không rõ sau đó, cậu ta có mệnh hệ gì không? Tôi cũng không biết nữa…


Đúng như dự kiến, tàu địch bắn loạn xạ một lúc rồi chạy thẳng một mạch lên phía Gò Nổi, nơi có trung đội đánh tàu đang phục kích, tổ chức càn quét trên đó. Nhưng trung đội đó đã rút từ đêm qua rồi.


Mặc dù chủ động và có sự chi viện tối đa của các loại hoả lực nhưng bọn địch vẫn rất sợ, không dám liều lĩnh càn vào. Chúng tôi cũng căng thẳng đợi địch suốt cả ngày hôm đó.


Có thể nói, trong quãng đời quân ngũ của tôi, chưa có lúc nào tần suất công việc lại được huy động đến mức tối đa như vậy và cơ thể cũng mệt mỏi, rã rời đến như vậy! Tuy vậy cái mệt cũng nhanh chóng qua đi. Có lẽ một phần do bom đạn; phần nữa, do tuổi trẻ hăng hái nên sức khoẻ phục hồi khá nhanh.


Ở Hội Đồng Sầm có rất nhiều tre, sau vài trận mưa đầu mùa, măng mọc lên như nấm. Chúng tôi ăn măng thoả thích. Ngày nào cũng măng. Hết luộc đến xào. Hết măng đến rau càng cua. Hai thứ ấy là thực phẩm chính của chúng tôi. Chúng tôi nằm chờ địch ở đây khá lâu. Nơi này có một cây giống như cây đa rất lớn, đã chết khô. Chúng tôi thường gọi là cứ  “Cây Khô”. Hôm ấy, đơn vị chúng tôi vẫn phục kích như thường lệ. Vẫn gài mìn ĐH10 rồi bí mật dòng dây điện vào công sự chờ, lúc nào địch vào là bấm mìn rồi tập trung hoả lực tiêu diệt. Khoảng 11 giờ, tình hình vẫn yên ắng. Tất cả chúng tôi cho rằng đã hết giờ cao điểm (8 đến 11 giờ) nên tập trung vào sau bụi tre, nơi có công sự chiến đấu và trú ẩn, chia bài ra đánh. Đang mải say sưa, cãi nhau vì đánh bài, bỗng một loạt AK nổ. Tiếp theo là đạn AR15, phóng lựu M97 nhằm vào hướng chúng tôi nổ loạn xạ cả lên. Tôi chụp vội B40 và mấy quả đạn nhào ra thì thấy mấy thằng lính từ phía sau bụi tre chỗ chúng tôi ngồi, chạy bật trở ra. Tôi không kịp bắn nữa, cùng Vũ Duy Tòng chạy dạt ra bưng vì lúc ấy cứ nghĩ chúng đã chiếm được mấy công sự gần đó rồi. Phát hiện thấy chúng tôi chạy, các loại đạn thi nhau đuổi theo. Cỏ bưng lút ngang đầu, tôi bảo Tòng chạy khom xuống. Tòng nghe theo. Một lúc, không thấy chúng bắn nữa. Chắc chúng nghĩ chúng tôi đã chết. Thì ra, lúc mọi người chủ quan không cảnh giới, địch mò vào. Chúng đã cắt dây điện để vô hiệu hoá mìn ĐH10 rồi áp sát bờ tre. Thiếu tý chút nữa thì cả bọn chúng tôi “ăn” lựu đạn của bọn này (vì tre kín quá, chúng chưa tìm được cách để ném lựu đạn tiêu diệt chúng tôi). Rất may, hôm đó, chúng tôi như được trời cứu. Số là, lúc ấy Tòng đang ngồi trên bờ, bỗng thấy một đôi cá lóc (cá chuối, cá tràu) lớn như bắp đùi lượn lờ dưới kinh, tìm chỗ đẻ (dân Nam Bộ gọi là cá bông (hoa) vì sống lâu ngày nên trên mình nó mốc meo như có hoa. Tiếc rẻ, Tòng làm luôn một loạt AK. Hai con cá bị chết nhưng chúng tôi đã được cứu. Súng nổ, địch tưởng ta biết chúng mò vào nên nổ súng. Chúng tháo chạy trở ra rồi quay lại bắn chúng tôi. Chính Tòng cũng không biết địch vào. Hai con cá ấy trở thành “vật hy sinh” để cứu mạng mấy cha “Việt Cộng” chủ quan. Đó là một kỷ niệm không quên giữa tôi và Vũ Duy Tòng tại cứ “Cây Khô”, Hội Đồng Sầm, Đức Huệ , Long An năm 1974…


Chúng tôi trở lại cứ Tân Phú một thời gian không lâu sau đó.


Đêm 27 tháng 5, một đêm tối trời, chúng tôi gần một trung đội gồm cả bộ đội và du kích xã Tân Phú vào ấp để lấy gạo và làm công tác dân vận. Trong đội hình hành quân đêm ấy có Phạm Khắc Đính. Đính đi trước tôi chừng 25 mét. Vào đến giữa ấp, chúng tôi ai cũng nghĩ: thế là an toàn rồi. Vì thông thường, bọn địch chỉ phục kích ở bìa ấp mà thôi, ít khi chúng phục kích giữa ấp.


Đang đi… Bỗng nhiều ánh chớp láo mắt và tiếng nổ chát chúa phía trước đội hình. Mảnh bay rào rào. Có tiếng la của bộ đội và du kích bị thương. Chúng đánh toàn lựu đạn mà không hề bắn một phát súng nào. Tôi nghe rõ tiếng Đính: “Sơn ơi, tao bị thương rồi!”. Tiếp theo lại tiếng lựu đạn nổ gần chỗ Đính. Địch ném tiếp vào chỗ có tiếng la. Chờ dứt tiếng nổ, tôi vội nhào lại, dùng tay bịt mồm cậu ta lại, rồi rít qua kẽ răng: “Im mồm! Tao đưa ra! Mày la nữa, nó bồi tiếp lựu đạn, chết cả lũ!”. Đính im bặt. Tôi ghé sát tai Đính nói nhỏ: “Bị thương ở đâu thì lấy tay bịt chặt vết thương lại!”. Tôi xốc nách Đính, bảo nằm lên lưng mình, tay phải xách B40 và giá đạn ba trái của tôi cùng AK của Đính, rồi quàng tay trái giữ Đính trên lưng, chạy ra. Máu Đính rơi trên vai tôi nóng hổi. Được khoảng 50 mét, chúng tôi gặp ngay một cái hố. Cả hai nhào xuống. Vừa lúc ấy, bọn địch tung pháo sáng lên, rồi xả súng bắn vào những người đang chạy dạt ra phía sau. Tôi bảo Đính: “Yên trí! Nếu M79 hoặc lựu đạn rơi vào hố thì cả hai cùng chết. Đạn thẳng thì yên tâm”. Lợi dụng ánh hoả châu, tôi băng cho Đính. Cậu ta bị một mảnh lựu đạn găm vào gò má bên trái, máu tuôn ra đầy mặt. Tôi bảo Đính bỏ tay ra (từ nãy đến giờ, Đính dùng ngón tay bịt chặt vết thương). Máu chảy tràn lên mặt. Tôi lấy băng buộc chặt vết thương, cầm máu cho Đính trong khi đạn vẫn chíu… chíu… trên đầu. Bây giờ, tôi mới có thì giờ quan sát. Chúng tôi đang đứng giữa một cái hố khoảng 6 mét vuông đầy gai tre, cao đến ngực. Dân chặt tre xong, quẳng gai xuống gần đầy một hố. Cơ thể chúng tôi bị gai đâm nát bét hết mà không hề thấy đau. Tiếng cối 81 ly và pháo địch giã theo phía anh em mình vừa chạy ra sau. Tôi cầm AK của Đính, cảnh giác đề phòng bọn địch có thể liều lĩnh xông tới. Nhưng chúng không dám. Chờ cho cối và pháo chuyển làn, tôi đẩy súng và đạn lên bờ, sau đó ngồi xuống bảo Đính đứng lên vai mình rồi nâng dậy để cậu ta leo lên bờ (hố sâu ngập đầu chúng tôi). Tôi trèo lên sau, bảo Đính: “Thôi an toàn rồi, bây giờ cậu bá vai tớ, tớ dìu đi, chứ không thể cõng được nữa! Mệt quá rồi!”. Đính nghe theo, cậu ta quàng chéo AK vào vai rồi cà nhắc bước theo tôi. Men theo hướng đường cũ, quay lại. Đến một nhà dân, chúng tôi vào gõ cửa nhưng không ai dám ra, vì sợ. Tôi biết lúc này họ đang ở dưới hầm (trảng xê) trong nhà. Chúng tôi gặp mấy anh em vừa chạy đến, họ cho biết đã có mấy đồng chí hy sinh nhưng không lấy xác ra được. Trận ấy bọn địch xảo quyệt, ném toàn lựu đạn mà không hề bắn viên đạn nào nên ta không xác định được vị trí để phản kích. Đến lúc chúng tung pháo sáng lên, phát hiện ra anh em mình thì đồng loạt nổ súng. Lúc ấy, chúng tôi bị động hoàn toàn, đành phải rút lui…


Sau ngày hoà bình trở về, tôi và Đính kể lại trận đánh này cho ông bà Cư (ông bà cụ thân sinh Đính) nghe, họ xúc động: “Gia đình ơn con để đâu cho hết, nếu không có con cõng ra thì giờ đây đâu còn thằng Đính. Con là người đã sinh ra nó lần thứ hai cho bố mẹ đó!”. Từ đấy, ông bà và gia đình coi tôi như con đẻ.


Bây giờ thì Phạm Khắc Đính không còn nữa! Tai nạn giao thông đã cướp đi mạng sống của Đính. Trớ trêu thay! Chiến trường gian khổ, bom đạn ác liệt như vậy mà không hy sinh, nay trở về trong thời bình, Đính lại chết trong oan ức, tức tưởi. Ngày Đính mất, tôi đến thắp hương khấn, rồi khóc và nói những điều này trước mộ cậu ta…


         Trận ấy, chúng tôi hy sinh và bị thương 9 đồng chí. Có 3 đồng chí du kích hy sinh, trong đó có Hồng (tên thật là Mò) và Trớ. Bình sinh, Hồng thường tâm sự với tôi. Hồng cho biết gia đình có 5 người con (Lần, Mò, Trong, Giỏ, Trắng). Hồng là con thứ hai. Chúng tôi thường gọi là Ba Hồng. Nghe Hồng kể nhà Hồng ở gần Lộc Giang. Trước đó, Hồng và tôi đã tham gia trận đánh phục kích trên Gò Nổi, gần đồn Lớn. Chúng tôi ngồi chung công sự. Hồng rất dũng cảm. Anh phụ trách mìn ĐH10. Chờ bọn địch vào gần mới điểm hoả, xé nát đội hình địch. Số còn lại tạt ngược vào chỗ chúng tôi, Hồng và tôi dùng AK và B40 tiêu diệt những tên chạy vào gần công sự. Nhớ nhất là hình ảnh lúc chờ địch vào, mặt Hồng đỏ gay, mồ hôi chảy thành dòng trên má. Khi nổ súng, tự nhiên mặt tái xám lại. 


 


Hồng hy sinh ở tuổi 19.


Theo nguyện vọng của gia đình, chúng tôi bí mật chuyển thi hài anh về để gia đình an táng tại quê nhà.


 


 


        Khác với Hồng, Trớ lại là con út của một gia đình cách mạng cũng ở Đức Hoà. Trớ kể, gia đình cậu có 7 anh chị em (Đang, Ngồi, ỉa, Cứt, Chảy, Trấn, Trớ). Trước đó hai người anh ruột đi giải phóng cũng đã hy sinh. Bây giờ đến Trớ. Tôi còn nhớ như in, Hồ Hữu Danh (quê Sơn Hàm, Hương Sơn, Hà Tĩnh) lúc nào gặp Trớ cũng trêu đùa về 7 cái tên gọi ngộ nghĩnh của gia đình cậu ta.


Như vậy, đến thời điểm đó, gia đình Trớ đã có ba người con hy sinh vì Tổ quốc. Một tổn thất quá lớn đối với một gia đình!


Có thể nói, giai đoạn từ sau Hiệp định Pari đến đó, liên tục chúng tôi phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau. Đây là thời kỳ vô cùng căng thẳng và ác liệt. Tổng số quân thương vong cũng rất lớn, tuy cục bộ từng trận thì không nhiều. Quân số không những không được bổ sung mà ngược lại còn bị tiêu hao qua các trận đánh. Duy nhất, tiểu đoàn chúng tôi chỉ được bổ sung một đợt quân gồm những đồng chí được phía nguỵ quyền Sài Gòn trao trả sau Hiệp định Paris mà ta gọi là lực lượng “Chiến thắng”. Đại đội tôi được bổ sung gồm anh Năm (quê Thái Bình), anh Hà, anh Đức (quê Bắc Thái) cùng một số anh em khác nữa… Họ là những người không may bị Mỹ nguỵ bắt làm tù binh trong các trận chiến đấu ở những năm trước đây. Sau Hiệp định Paris, lần lượt được trao trả tại Lộc Ninh (Bình Long) hoặc một số địa điểm khác tại Tây Ninh hoặc Long An do hai bên quy định. Trong số đó, Đức được bổ nhiệm làm B phó (trung đội phó). Sau này (1974), anh hy sinh ở trận Gò Nổi.


loading...

Chúng tôi đã từng tham gia bảo vệ cho các đợt trao trả tù binh như vậy của hai phía từ sau Hiệp định Pari tại khu giải phóng thuộc bưng Đức Huệ. Tuy nhiên, ít khi phía chính quyền Sài Gòn chấp hành nghiêm chỉnh quy định. Ngược lại, chúng luôn lật lọng và tìm cách phá hoại. Khi thì chúng không đến đúng hẹn, khi thì dùng phi pháo tấn công vào nơi quy định trao trả rồi đổ quân hòng đánh úp chúng ta. Chúng tôi đã nhiều lần chạm trán với bọn này nên hết sức cảnh giác và đương nhiên là chúng bị giáng trả quyết liệt.


Gần hai tuần sau đó, chúng tôi lại được lệnh vào lại Tân Phú. Cũng như lần trước, đơn vị phối hợp với du kích cùng vào ấp để lấy gạo và làm công tác tuyên truyền. Đêm ấy, sau khi vào đến bìa ấp, trung đội chúng tôi chia ra hai mũi. Một mũi theo đường thẳng vào ấp, còn chúng tôi, rẽ vòng sang trái và hẹn gặp nhau tại một địa điểm đã định trước. Cánh chúng tôi vừa đi được khoảng 300 mét thì bỗng phía bên kia loé lên mấy ánh chớp liền đó là những tiếng nổ lớn của mìn clâymo. Tiếp theo là AR15, M79 cùng tiếng lựu đạn. Chúng tôi biết là các đồng chí bên đó bị địch phục kích rồi. Nhanh chóng, mọi người vận động nhanh rồi vòng lên đón đầu, phục chờ chúng quay về. Sau khi bắn chết mấy đồng chí của ta, chúng ném xác xuống giếng của dân rồi đốt mấy đống rơm gần đấy. Cách đó không xa, sau ánh lửa, chúng tôi thấy khá rõ bọn địch đi lại lộn xộn. Chúng không ngờ còn có một bộ phận chúng tôi ở bên này. Chúng tôi triển khai đội hình mai phục chúng ở con đường mà thường ngày, xe trâu qua lại đã thành rãnh. Hai bên, dứa dại mọc ngang tầm đầu. Chừng 10 phút sau, chúng bắn rộ lên theo hướng ra bưng, rồi im lặng, nhanh chóng rút khỏi chỗ đó. Bọn địch đi ngang qua trước mặt chúng tôi chừng 40-50 mét theo mấy bờ ruộng dân đã gặt xong từ lâu. Trời tối nên chúng tôi không nhìn thấy nhưng nghe chúng nói chuyện với nhau những gì không rõ. Mặc dù chủ động nhưng do địa hình mới lạ lại bị dứa che mất tầm nhìn nên đến lúc địch đi ngang qua trước mặt, chúng tôi vẫn chưa triển khai xong đội hình, lại còn vô ý gây ra tiếng động nên bị chúng nổ súng bắn trước. Từ chủ động trở thành bị động, chúng tôi bắn trả được mấy loạt rồi rút theo đường cũ. Bọn địch vừa bắn vừa lùi ra xa và gọi pháo từ Hậu Nghĩa nã theo hướng chúng tôi. Tuy không ai bị thương nhưng cũng bị một phen chạy bở hơi tai. éến 11giờ đêm, chúng tôi mới quay lại được nơi các đồng chí ta bị địch phục kích. Tất cả có 6 người hy sinh (có một nữ du kích) bị chúng ném hết xuống giếng. Chúng tôi phải dòng dây rồi thả người xuống để đưa thi thể họ lên. Một giếng nước, máu của các đồng chí chúng ta nhuộm đỏ lòm.


Chúng tôi nhanh chóng chuyển các đồng chí hy sinh ra rìa bưng rồi giao cho du kích Tân Phú lo khâm liệm, mai táng trước khi trời sáng.


Có thể nói, đối với chúng tôi, đây là một trận thất bại không đáng có. Bọn địch hôm đó không ai khác là đại đội thám sát ác ôn 773 của tiểu khu Hậu Nghĩa. Chúng đã từng phục kích, bắn chết 13 đồng chí Chiến sỹ thi đua của Trung đoàn hồi tháng 6 năm 1973 tại bưng Đức Huệ. Sau trận này, chúng tôi tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm một cách thẳng thắn. Xem thất bại này là một nỗi đau và vết nhục trong lịch sử tác chiến sau Hiệp định Paris của tiểu đoàn. Hôm đó, chỉ cần tỉnh táo một chút, chúng tôi đã tiêu diệt gọn đại đội thám sát 773 khét tiếng ác ôn này để trả thù cho đồng đội rồi.


Chúng tôi lại quay về Gò Nổi. Nhiệm vụ chủ yếu lúc này vẫn là bám, nắm theo dõi tình hình địch ở các đồn bốt mới lấn chiếm. Đồng thời, lúc cần thiết thì tổ chức đánh nhỏ, lẻ nhằm tiêu hao lực lượng và ngăn chặn không cho chúng tiếp tục đóng thêm các đồn bốt khác.


Hôm ấy, tôi, Nguyễn Hữu Dĩnh (quê Sơn Thịnh, Hương Sơn, Hà Tĩnh), cùng Chu Văn Lương (quê Quỳnh Lưu, Nghệ An), nhận nhiệm vụ bám địch ở đồn Lớn (Lộc Giang). Cách đồn chừng 600-700 mét có một cây mức (lồng mức), tán lá rất dày và xanh. Chúng tôi thường trèo lên đó để quan sát địch từ ngay trong sân. Địch ra đến đâu, chúng tôi bám theo rồi rút đến đó. Đến chỗ thích hợp, bất thần nổ súng vào đội hình địch, tiêu diệt một số tên rồi rút lui.


Tôi trèo lên cây lồng mức từ sáng sớm. Khoảng 7 giờ, đã thấy bọn lính đi lại lố nhố trong sân đồn khá đông, tôi nghĩ: “Hôm nay chắc chúng càn ra”. Đang mải nghĩ phương án chặn đánh bọn này nếu chúng nống ra, bỗng có tiếng đề pa (tiếng nổ đầu nòng) rất tròn của cối 81 ly. Nhưng tôi đoán có lẽ chúng bắn đâu đó. Bỗng, rít… xoẹt… ầm…! Một tiếng nổ lớn cách gốc cây lồng mức chừng 3- 4 mét, gần dưới chỗ tôi ngồi. Khói trắng cuộn bốc lên che kín tán lá. Tôi biết ngay là trái cối điểm (chỉ điểm mục tiêu). Lợi dụng khói, tôi nhảy đại ngay từ trên ngọn cây chừng 4 mét xuống đất, chụp vội khẩu B40 dựng ở gốc cây, miệng hét: “Lương, Dĩnh đâu? Chạy!”. Cả ba chúng tôi cắm đầu chạy như ma đuổi khỏi chỗ trái khói vừa nổ. Kinh nghiệm cho hay, nếu không nhanh chóng rời ngay khỏi đám khói đó thì chỉ một hai phút sau, cối sẽ cấp tập vào ngay. Đúng như chúng tôi dự đoán, chạy được chừng 300 mét thì cối từ đồn Lớn liên tục dội xuống chỗ khói trắng vừa bốc lên. Hú vía! Tôi nói với Lương và Dĩnh: “Nếu quả đạn ấy mà là cối mảnh thì giờ đây chắc chúng mình đã nằm lại dưới gốc cây lồng mức cả rồi!” Cả ba cùng cười ngặt nghẽo rồi rút về cứ. Hôm đó, bọn địch nống ra Gò Nổi thăm dò, nhưng chúng sợ, không dám liều lĩnh mò vào. Có lẽ, qua ống nhòm, địch phát hiện ra tôi ngồi trên ngọn cây. Có lẽ khi ngồi trên đó, ngọn cây rung lắc nhiều quá, làm chúng chú ý?


Mấy hôm sau, trung đội lại tổ chức vào Lộc Giang thực thi nhiệm vụ dân vận và móc nối với cơ sở để lấy gạo, thực phẩm và thuốc men. Hôm ấy, tôi bị mệt do vừa đi công tác về nên trung đội không bố trí vào ấp. Khoảng 4 giờ chiều, trời mưa, anh em tranh thủ bám địch để đi sớm hơn dự định. Lưu Xuân Tiết (quê Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh – B trưởng) hôm ấy cũng bị cảm không vào ấp cùng anh em được, nên đã cử Nguyễn Văn Từ, B phó, quê Quảng Xương, Thanh Hóa, đi thay.


 Bây giờ, ở cứ chỉ còn tôi và Tiết. Về chiều, mưa càng nặng hạt. Chúng tôi bụng ai cũng cồn cào vì đói mà gạo thì đã gần hết. Tôi nghĩ, trong khi anh em đi công tác, họ cũng đang đói, mình ở nhà nấu cơm ăn một mình, không nỡ. Tôi bàn với Tiết: “Thôi, ông đang mệt, ở nhà, tôi đi nhổ sắn về, anh em mình luộc đánh chén cho đỡ đói.” (ở Gò Nổi, dân cách mạng họ trồng mỳ (sắn) không nhằm mục đích thu hoạch mà chủ yếu lấy cớ đi làm, để liên lạc, cung cấp tin tức cho cách mạng. Mặt khác lo lương thực tại chỗ cho bộ đội, du kích phòng khi không có tiếp tế).


Cởi bỏ hết đồ dài, trên mình chỉ độc một chiếc quần đùi, quàng thắt lưng với một quả “da láng” MK8 (lựu đạn mỏ vịt của Mỹ), một dao găm và một sợi dây dù (dây võng), tôi len lỏi giữa nhừng lùm cây lúp xúp để đến được nương mỳ. Cách chỗ tôi nhổ mỳ chừng 500 mét, có một cái bốt mới đóng trái phép, bốt Lộ 8. Tôi trông khá rõ thằng lính gác ngồi trên mi- đo (chòi gác). Còn nó, không để ý chỗ tôi. Hơn nữa do trời mưa, tôi lại luồn lách, lom khom đi giữa đi giữa những luống mỳ nên có chú ý cũng không thể thấy được. Tôi đã nhổ được một ôm khá to rồi. Đang định ra về, chợt nhìn sang bên cạnh, thấy một luống, cây rất tốt, nghĩ bụng: “Có lẽ củ to và nhiều lắm đây!” Vội bước lên một lùm cỏ xanh rờn để qua bên đó nhổ thêm vài gốc nữa. Ôi! Tôi bỗng thấy hun hút… hun hút… như đang rơi vào khoảng không. Ùm…! Rồi chìm nghỉm xuống dưới mặt nước, sau đó tôi trồi lên. Tôi biết mình đã bị rơi xuống một cái giếng bỏ hoang lâu ngày. Ngước mặt nhìn lên miệng giếng, tôi thấy cỏ đã phủ kín và nước mưa nhỏ long tong trên mặt. Tôi nghĩ nhanh: “Thế là hết! Mình sẽ vĩnh viễn gửi lại bộ xương nơi lòng giếng này!”. Tôi gắng sức hét lên một tiếng thật to thử xem có ai có thể nghe được không? Nhưng tiếng hét của tôi không thể lọt ra khỏi lòng giếng. Lúc này, tôi thức sự hoảng loạn. Có lẽ, trong quãng đời quân ngũ, chưa bao giờ tôi lại bị cú “sốc” tinh thần lớn như vậy. Kể cả những lúc bom đạn ác liệt và đối mặt với cái chết đến trong khoảnh khắc, tôi vẫn không nao lòng. Bởi lúc ấy, có đồng đội bên cạnh. Còn giờ đây, tôi thực sự đơn lẻ. Chẳng có ai ở gần tôi. Nỗi trống vắng xâm lấn tâm hồn và làm cho tôi hoảng sợ thực sự…Tuy nhiên, trạng thái tâm lý ấy cũng nhanh chóng qua đi, nhường lại là sự tỉnh táo. Một phản xạ tất yếu của người lính từng hứng chịu mưa bom bão đạn như tôi và trước sự lựa chọn giữa cái chết với sự sống, tôi nghĩ nhanh: “Mình không thể chết đói, chết rét dưới lòng giếng này được! Nếu không còn phương án nào khả dĩ thì mình sẽ rút chốt lựu đạn để kết thúc cuộc đời, trước khi cái chết mòn kéo đến!”. Tôi nổi trong lòng giếng như con ếch và tiếp tục nghĩ cách thoát ra. Bất chợt một tia hy vọng loé lên trong đầu. Tôi nghĩ nhanh: “Người dân ở đây, khi đào giếng thường đào bậc so le hai bên thành giếng để tiện lên xuống” (đất ở Gò Nổi có kết cấu khá vững chắc, rất nhanh phong hoá). Tôi sờ tay vào thành giếng. Đúng như dự đoán. Hai bên đều có bậc. Nhưng lâu ngày nên bậc bị mòn và rêu bám trơn tuột. Tôi chợt nghĩ: “Mình sẽ dùng dao găm đào bậc để lên. Vậy là không chết nữa rồi!”. Tôi thầm reo lên và thấy tinh thần phấn chấn vô cùng. Nó như động lực, tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Lấy hơi, tôi hụp lặn xuống mò dao găm dưới đáy giếng. Tôi rùng mình khi chạm phải một cái cọc sắt khoảng phi 12 ở giữa lòng giếng. Nhưng may mắn thay, do lâu ngày nên nó đã rỉ ngang mặt đất rồi đổ gập về một phía. Nếu không, tôi đã bị xâu như con ếch từ đít lên đầu bởi thanh sắt ấy rồi! Tôi dùng dao găm, đào khoét theo bậc, hết bên này đến bên kia, gạt hết rong rêu rồi bám theo đó, leo lên. Cứ đào xong một bậc bên này, tôi lại cho bàn chân vào rồi dùng hai khuỷu tay khuỳnh ra hai bên để tạo lực và điểm tựa nhích dần lên để đào bậc bên kia. Rất may là lòng giếng hẹp. Nếu rộng quá độ dài của hai cánh tay thì chắc chắn tôi sẽ không có cách nào lên được. Tôi không biết mình đã đào bao nhiêu bậc. Mãi thật lâu, mới lên đến gần mép giếng. Đu người, nắm lấy búi cỏ, tôi kéo mạnh lên rồi bám lấy một búi khác, trườn nhanh lên thành giếng. Thế là thoát chết! Tôi thở phào. Lúc này, đã thấm mệt. Tay cầm dao găm, một mạch chạy về theo lối cũ và cố tránh những nơi cỏ mọc xanh tốt. Đúng là “kinh cung chi điểu”. Con chim bị bắn chết hụt, nhìn thấy cành cây cong tưởng đó là cánh cung. Còn tôi cứ thấy những lùm cỏ xanh là tránh, sợ đó lại là miệng giếng. Cái giếng nơi tôi rơi xuống sâu đến trên13 mét. Chứa khoảng gần 2 mét nước. Nếu giếng không có nước, chắc chắn tôi chỉ còn là một đống thịt xương lẫn lộn!


Thấy tôi đi đã quá lâu, mãi đến gần 7 giờ tối mới lục tục chạy về, Tiết hỏi ngay: “Sao lâu thế? Chờ sốt cả ruột! Tớ tưởng cậu bị địch bắt rồi!”. Tôi thuật lại cho Tiết nghe, vẻ mặt cậu ta xúc động thật sự, rồi an ủi tôi: “Không chết là may rồi. Nếu không lên được thì bọn tớ cũng chẳng biết đâu mà lần, đành phải báo mất tích thôi!”. Tôi bảo: “Thôi, cậu đi cùng mình, ra lấy sắn và các thứ về đi!”. Tiết không ngần ngại, rút trong ba lô ra thêm sợi dây dù rồi với tay xách khẩu AK theo tôi, trở lại chỗ cái giếng. Chúng tôi chạy một mạch đến nơi. Lúc này trời đã tối hẳn. Tiết đứng giạng chân trên bờ, cầm sợi dây dòng xuống để tôi bám vào đấy thả mình xuống lòng giếng. Được hai phần ba, tôi tuột tay rơi xuống. Tôi lặn mò bó sắn và lựu đạn rồi bảo Tiết kéo lên. Tiết vốn to con (khoảng 70 kg) nên việc kéo tôi lên không khó khăn gì. Lên được hai phần ba giếng, tôi lại tuột tay rơi xuống lần nữa. Trầy trật mãi, một lúc sau, cộng với sức kéo của Tiết tôi mới bám được bờ. Sau này tôi mới tự hỏi tại sao mình lại ngớ ngẩn và đãng trí thế! Việc gì lại phải xuống giếng thêm một lần nữa trong khi chỉ có một trái lựu đạn và một bó sắn? Nếu lần này xuống mà gặp điều rủi ro thì sao?!…


Chúng tôi về đến “cứ”. Trời vẫn mưa. Không có củi khô, tôi chẻ một cây sào phơi quần áo để làm củi rồi cùng Tiết nấu sắn ngay trên giường ngủ dưới tán tăng nilon. Tôi tháo lưỡi xẻng kê lên để khỏi cháy giường.


Hai chúng tôi ăn hết một xoong sắn lớn. Sau đó nằm nói chuyện chờ đến lúc anh em từ ấp chiến lược về. Tuy vậy, cái giá phải trả cho bữa sắn ấy là quá đắt. Với tôi, đó lại là một kỷ niệm nhớ đời.


Câu chuyện sau đó đã trở thành một giai thoại trong đơn vị. Mãi đến bây giờ mỗi khi gặp lại đồng đội cũ, họ đều nhắc đến tình huống hy hữu đó.


Cũng như lần vớt gạo trên sông Xê Rê Pốc ở Trường Sơn, tôi nghĩ, có lẽ tổ tiên đã dõi theo từng bước để phù hộ độ trì cho tôi dưới trời lửa đạn hay trong những phút giây hiểm nghèo nhất tưởng chừng không thể nào vượt qua nổi…


…Càng ngày, bọn địch có vẻ như càng nhận thấy sự hiện diện của một lực lượng quân sự bí mật nào đó ở khu vực Gò Nổi đang ngày đêm uy hiếp chúng mà chúng cần tìm hiểu. Bọn chỉ huy đốc thúc lính tăng cường nống ra thăm dò để phát hiện. Do vậy nhiệm vụ bám, nắm địch của chúng tôi ngày một nặng nề hơn.


Chiều ngày12 tháng 7 năm 1974, từ cứ “Trốn Lính” cách Gò Nổi chừng 1,5 km đường xuồng (gọi là cứ “Trốn Lính” vì cứ này có rất nhiều người đến tuổi quân dịch, không chịu đi lính cho nguỵ quyền Sài Gòn mà cũng không dám tham gia làm cách mạng đã trốn ra đây, được gia đình chu cấp, chờ ngày giải phóng để trở về), tôi cùng Ngô Quang Phô (quê Quảng Trạch, Quảng Bình), Nguyễn Văn Lưu (quê Nam Đàn, Nghệ An), Lưu có tật hay nháy mắt kép, sau này khi bám địch ở Gò Nổi đã vô ý dẫm phải quả B40 do ta gài để chặn địch, cắt đứt đùi phải, mất nhiều máu, hy sinh ngay sau đó), Kiều Gia Lâm (quê Xuân Hải, Nghi Xuân, Hà Tĩnh) và Lưu Xuân Tiết, bám lên Gò Nổi. Đến 16 giờ, chúng tôi mới lên được tới chỗ bọn địch. Tuy nhiên, trước đó chừng 20 phút, chúng đã rút. Tôi bàn với Tiết và Phô phải gài mìn lại phòng ngày mai chúng lại tiếp tục ra. Tôi dùng dao găm đào lỗ chôn mấy quả “Cá mòi” (loại mìn tự tạo, dùng vỏ hộp cá mòi, nhồi TNT, tra kíp vào làm mìn giẫm nổ).


Đúng như dự đoán, sáng hôm sau, mới khoảng 8 giờ, đã nghe mấy loạt AR15 đì đẹt trên Gò Nổi. Chúng tôi được lệnh phải đi bám địch. Cả năm anh em lại lên xuồng. Tôi vừa ngồi trên xuồng vừa lau súng. Đi ngang qua chỗ cứ “Trốn lính”, mấy người, trong đó có cả du kích, đang ăn sáng. Thấy tôi lau B40, một cô du kích bảo: “Mấy anh đi bám địch mà lau súng là dễ đụng tụi nó lắm đó nghen!”. Tôi chỉ cười mà không tin. Tất nhiên vì đi trễ, nên cũng hết sức cảnh giác. Khoảng gần 10 giờ, xuồng mới cập bến. Neo xuồng xong, mọi người lần lượt bám lên. Phô, Tiết, Lưu đi mũi 1. Tôi và Kiều Gia Lâm, mũi 2 vòng bên trái. Thấy rất nhiều dấu giày của bọn lính, tôi nháy Lâm cảnh giác rồi bám dần lên đến chỗ ngã ba đường mòn mà chiều hôm qua tôi đã chôn rải rác 3 trái “cá mòi” kia. Đến đây, dấu giày chi chít. Tôi chỉ cho Lâm thấy mấy cái đầu lọc thuốc lá “Ru Bi” bọn nguỵ vừa hút xong, vứt xuống đấy. Đồng thời, tay chỉ vào chỗ có mấy trái mìn, nói nhỏ với Lâm: “Đây, chúng nó vừa giẫm nát chỗ này mà sao không giẫm phải “râu tôm” của trái mìn tớ gài nhỉ?!” Vừa dứt lời, chợt thoáng thấy một thằng lính bận đồ rằn ri, nằm dưới bụi tre gai lúp xúp cách tôi chừng 2 mét bật dậy, run lẩy bẩy, chụp súng kéo cò. Đạn bay xèo xèo qua mặt, qua đầu tôi và Lâm. Thật kỳ lạ, cả hai không hề “dính” một viên nào. Thì ra, thằng lính nằm phục kích chúng tôi, ngủ quên… Khi tôi thì thầm với Lâm, nó giật mình, chụp súng kéo đại cả băng 20 viên cực nhanh. Tôi quay đầu chạy chừng 5 mét rồi quay lại giáng một trái B40 vào ngay gốc bụi tre. Nhưng thằng lính đã nhanh chân hơn. Trước đó, nó đã nhảy khỏi chỗ ấy rồi chạy biến. Sỡ dĩ tôi không bắn ngay được vì khoảng cách giữa tôi và tên lính quá gần, B40 không thể phát huy được hoả lực. Tôi phải lùi lại khoảng 5 mét mới đủ tầm bắn (B40 bắn cự ly trong 3 mét, đạn sẽ không nổ vì chưa đủ thời gian cho viên bi trong rãnh an toàn xoay hết vòng của nó để rơi vào vị trí mất an toàn). Bây giờ thì các loại súng thi nhau nổ. Tôi chạy trong mưa đạn. Xung quanh, M72, M79, AR15, đại liên bắn như mưa rào. Nhưng thật kỳ diệu, tôi không hề dính phải một mảnh hay một viên đạn nào cả. Còn Lâm, hoảng quá, rẽ phải, chạy ra phía đồng trống. Bọn địch phát hiện được liền chuyển hướng bắn theo. Tôi nghĩ, chắc Lâm không thể thoát khỏi làn đạn ấy. Tôi xách B40 cắm cổ chạy một mạch xuống đến chỗ giấu xuồng. Cùng lúc ấy, Tiết, Phô, Lưu cũng chạy về đến nơi. Chúng tôi nhanh chóng nhảy lên xuồng, bơi một mạch theo con rạch cũ. Bấy giờ mọi người mới hỏi: “Lâm đâu?!” Tôi kể lại. Ai cũng nghĩ Lâm đã hy sinh. Trên bờ địch vẫn bắn đuổi theo không tiếc đạn. Nhưng chúng tôi đã ra khỏi khu vực nguy hiểm rồi. Được một lúc, đang bơi, đột ngột thấy Lâm xuất hiện bên bờ rạch, mặt tái xám vì mệt, người ướt như chuột lột. Tất cả đều reo lên “Kìa! Thằng Lâm vẫn sống”. Chúng tôi dừng xuồng, đón Lâm. Cậu ta lên xuồng, định thần rồi kể: “Khi tớ chạy ra hướng đồng trống, bọn địch phát hiện được liền bắn đuổi theo và hò la bắt sống…”. Lâm cắm cổ chạy xuống đến triền bưng rồi chui vào cỏ trườn đi, sau đó mới định hướng, cắt bưng về vừa lúc chúng tôi đến và gặp tại bờ rạch (sau này, năm 1980, tôi gặp lại Lâm tại Vinh, cậu ta làm công nhân xây dựng).


Chúng tôi cũng không hề biết rằng, trước đó đã có một tiểu đội du kích đi trước bám địch. Họ cũng không ngờ có mấy tên lính đang mải quan sát chúng tôi từ trên ngọn cây. Khi nghe tiếng súng AR15, mấy thằng này liền chửi: “Đ… mẹ! Đồ ngu! Biểu chờ tụi nó vzô để bắt sống, sao lại bắn sớm quá vzậy?”. Các đồng chí du kích liền xả súng lên ngọn cây, mấy thằng đó trúng đạn rơi xuống. Họ lập tức quay trở lại rồi lên xuồng, nhanh chóng bơi ra theo hướng chúng tôi. Chúng tôi cùng gặp nhau ở cứ “Trốn lính”.


Tôi nói đùa với mấy anh em cùng đi: “Phải cảm ơn thằng lính đã ngủ quên dưới bụi tre. Nếu không thì một trong hai tình huống đã xẩy ra: hoặc bị bắt sống hoặc đã “nằm lại” trên Gò Nổi rồi”.


Lần ấy, sau khi trở về hậu cứ, tôi trực tiếp đề xuất ý kiến lên tiểu đoàn bộ. Nội dung là phê phán thói quan liêu, duy ý chí của cán bộ tiểu đoàn, suýt nữa đã đưa chúng tôi đến cái chết vô ích. Lẽ ra hôm đó, nếu cần bám địch thì tiểu đoàn phải có kế hoạch để chúng tôi chủ động đi sớm khi địch chưa nống ra. Đằng này, để chúng ra chiếm địa bàn trước rồi mới lệnh chúng tôi đi. Quả là một sự kém cỏi và chủ quan trong chỉ đạo tác chiến. Nhất lại là những cán bộ đã có thâm niên chiến trường như các vị ấy. Hôm ấy, chúng tôi thoát chết là điều nằm ngoài sự tưởng tượng.


Hôm sau, cũng tại cứ “Trốn lính” này, tôi lại có một kỷ niệm khác. Vì hôm trước, khi vội vàng lên xuồng để rút nhanh ra khỏi tầm hoả lực của địch ở Gò Nổi, tôi đã nhúng toàn bộ bó liều phóng B40 xuống nước. Sáng hôm ấy, sau khi dập hết lửa ngọn, tôi cẩn thận để bó liều phóng trên bếp than cho nhanh khô. Không ngờ, chỉ ít phút sau, một đốm tàn lửa nào đó đã bắt vào liều phóng. Một tiếng x…ẹt…! Rồi trong chớp mắt, khói trùm kín cả vườn vú sữa nơi chúng tôi trú quân. Khói trắng dày đặc đến mức chỉ đứng cách nhau vài bước chân mà không thể nhìn thấy được nhau. Khói cuộn lên như có một bàn tay khổng lồ nào đó ném xuống vườn vú sữa một núi bông trắng xoá. Tất cả chúng tôi kinh hoảng vì sự việc diễn ra quá đột ngột, ngoài tầm kiểm soát. Kinh hoảng hơn là nhất định phen này sẽ không thể thoát bởi pháo, trực thăng và bom. Vì ở đây chỉ cần một sơ suất nhỏ, để lọt một tia khói hay tiếng động là lập tức pháo bầy đến ngay. Lệnh của tiểu đoàn phải chuẩn bị chiến đấu. Nơi chúng tôi trú quân thật bất lợi. Trước mặt là con rạch dẫn lên Gò Nổi. Phía bên trái là cánh đồng bưng trống trải. Sau lưng và bên phải cũng là đồng bưng. Cách chừng 200 mét là sông Vàm Cỏ Đông. Tàu địch thường xuyên tuần tiễu. Chúng tôi ở vào cái thế “cá nằm trên thớt”. Không còn cách nào khác là ai nấy đều nín thở chờ đợi… Không khí căng thẳng như lúc chờ địch vào. Năm phút… Mười phút… Rồi ba mươi phút… không gian im lặng như nén đặc lại. Không hề nghe một tiếng đại bác hay tiếng trực thăng. Kỳ lạ quá! Chúng tôi nhìn nhau, chẳng ai tin vào tai mình nữa. Thời gian cứ dần trôi, mọi người cứ thấp thỏm, nơm nớp. Một giờ… Rồi hai giờ… trôi qua. Vẫn im lặng. Một sự im lặng đáng sợ! Cuối cùng, buổi sáng cũng đi qua mà không hề có động tĩnh gì. Rồi cả buổi chiều hôm đó cũng trôi qua trong im lặng. Tất cả chúng tôi thở phào. Thế là ổn! Không ai có thể cắt nghĩa được hiện tượng có một không hai này.


Chiều hôm đó rồi cả ngày hôm sau và mấy ngày sau nữa cũng không có hiện tượng gì xảy ra. Lần ấy, nếu như mọi khi, chúng tôi sẽ no đòn vì bom, pháo. Và không biết hậu quả sẽ như thế nào. Đây cũng lại là một tình huống hy hữu, nằm ngoài quy luật của chiến sự vùng này.


Loading...

TIN LIÊN QUAN