Chúng tôi trở lại Ba Thu rồi hành quân về gần sóc “Chêếch” và ở lại đây trong một thời gian khá dài để nhận thêm quân bổ sung, củng cố và huấn luyện, chuẩn bị chiến dịch mới. Thời gian này, tôi có nhiều kỷ niệm khó quên. Chúng tôi đóng quân trong phum (làng) có ngôi chùa Miên rất lớn. Ngôi chùa toạ lạc trên khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng. Có một cái giếng trong vắt và mát lắm. Hàng ngày, chúng tôi thường ra giếng tắm.


       


           Cứ mỗi lần, sãi ở ngôi chùa ra tắm, tôi cũng ra tắm với họ (ở Campuchia, độ tuổi từ 10,12 trở lên là đã “xuống tóc” (cạo trọc đầu) để đi ở chùa rồi. Bên đó đi chùa như ta đi nghĩa vụ quân sự vậy. Tôi nhờ mấy chú sãi kỳ lưng, múc nước, rồi dội cho mình gội đầu. Tôi hoàn toàn không ngờ hành động của mình đã vô tình vi phạm chính sách quốc tế. Bên đó, sãi được mọi giới trong xã hội tôn trọng lắm. Ông bà già sáu, bảy mươi tuổi cũng phải quỳ phủ phục xuống chắp tay vái chú sãi 10,12 tuổi mỗi khi họ đi cầu thực. Trong chùa, cây cổ thụ rất nhiều, toả bóng mát quanh năm. Các loại chim cu, sáo, chèo bẻo… làm tổ ở đấy nhiều lắm. Tôi vốn bắn AK rất “tin” (chính xác). Cu hoặc sáo đậu chót vót trên các đỉnh tháp của ngôi chùa, chỉ cần nâng súng lên vai, không cần điểm tựa, đưa vào khe ngắm, siết cò là chim lăn lông lốc xuống. Không mấy con thoát chết khi đã lọt vào khe ngắm AK của tôi. Tôi đã bắn hết khá nhiều chim của ngôi chùa này. Cho đến một hôm, ban chỉ huy đại đội cho biết: “Lục thum” (ông lớn, sãi trưởng) trong chùa phản ánh: “Công tóp Việt Nam” (Bộ đội Việt Nam) bắn chim của chùa và hạ nhục sãi trong chùa(!?)” (bắt kỳ lưng, dội nước gội đầu…) Anh Cầu, chính trị viên đại đội cho gọi tôi lên phê bình, rồi bắt viết bản tự kiểm điểm. Trong cuộc họp, đại đội đưa tôi ra kiểm điểm, nhắc nhở. Sau đó cùng anh đến chùa, công khai xin lỗi sư sãi. Lần ấy, lẽ ra, sau các chiến dịch chiến đấu từ mùa hè 1972 đến đó, chi bộ sẽ tổ chức kết nạp tôi vào Đảng. Nhưng vì vướng phải khuyết điểm ấy nên lại tạm đình hoãn, để… thử thách thêm. Kỷ niệm ấy là bài học đủ để tôi ghi nhớ suốt đời. Sau này, khi tìm hiểu về phong tục và tôn giáo Campuchia, tôi mới biết mình đã phạm một sai lầm lớn. Rất may, là các vị sãi ở chùa này cũng rất độ lượng. Họ thông cảm cho chúng tôi. Vì thực tế, họ đã hiểu rõ bản chất của bộ đội Việt Nam. Nếu không, tôi và đơn vị chắc chắn phải chịu kỷ luật nặng. Tôi đã vô tình xúc phạm điều thiêng liêng và tối kỵ của họ. Vi phạm chính sách quốc tế và tôn giáo nước bạn. Tôi chợt nghĩ, nếu họ kiện, không biết hậu quả dành cho tôi sẽ đến mức nào?!


 Một bài học lớn cho tôi và tất cả mọi người. Câu tục ngữ: “Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần” với tôi, lúc này mới sâu sắc và thấm thía làm sao!


… Chúng tôi được nhận thêm quân bổ sung và học tập chính trị, củng cố tư tưởng và quyết tâm để chuẩn bị tiếp tục xuống chiến trường vào trận mới. Chính nơi đây, chúng tôi lại ghi thêm một kỷ niệm đau buồn, một tổn thất to lớn của Trung đoàn.


Hôm ấy là ngày 16 tháng 4 năm 1973, mười bốn đồng chí ở các tiểu đoàn và đơn vị trực thuộc, có nhiều thành tích xuất sắc trong chiến đấu, được cử đi dự Đại hội chiến sỹ thi đua của Trung đoàn ở đất bạn (Campuchia). Trên đường về đơn vị, họ đi ngang qua đại đội chúng tôi. Lúc ấy đã gần 12 giờ trưa. Chúng tôi vừa ăn xong. Trời nắng gắt, họ ghé vào xin nước uống. Tôi nhận ra ngay Hà Duy Hưng (Tiến Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh), vốn học cùng lớp 9, ngồi chung bàn và nhập ngũ cùng ngày với tôi. Vào chiến trường, cậu ta chiến đấu rất dũng cảm. Đã được kết nạp Đảng và đề bạt làm trung đội trưởng. Tôi ôm chầm lấy Hưng rồi mời tất cả mọi người vào nghỉ, uống nước. Tôi hỏi: “Các anh đã cơm, nước gì chưa?” Họ bảo: “Chưa!”. Chúng tôi mời họ nghỉ lại, ăn cơm, chiều đi tiếp. Vả lại đi sớm quá, dễ gặp địch phục kích hoặc bị trực thăng đổ chụp. Anh nuôi nhanh chóng đổ gạo vào nồi, nhóm bếp, thổi cơm. Thức ăn đã có sẵn. Một lúc sau, cơm chín, mọi người ăn uống và nói chuyện vui vẻ. Tôi rất mến Hưng vì cậu ta đẹp trai, học giỏi, tính cách có phần ga lăng, chữ viết đứng và đẹp như chữ viết giấy khen, nét chữ rất láu. (Hưng là con của thầy giáo Hà Duy Mân, cán bộ phòng Giáo dục Can Lộc hồi đó. Tôi bắt chước tuồng chữ của Hưng nên bây giờ chữ viết của tôi cũng na ná như chữ của Hưng). Khoảng 13 giờ 30 phút, các đồng chí ấy rục rịch đòi đi. Họ bảo phải gấp rút xuống chiến trường vì chiến dịch sắp mở. Trong số 14 người ấy ngoài Hưng ra còn có Lê Văn Chung (Thanh Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh) cũng nhập ngũ với tôi, làm y tá, được trung đoàn gửi kèm xuống, mang nhiều cơ số thuốc, bổ sung cho đơn vị chiến đấu; Một đồng chí thông tin mang máy vô tuyến 2W cũng được gửi theo. Còn lại là các đồng chí Chiến sỹ thi đua của các tiểu đoàn chiến đấu 7,9 và các đại đội trực thuộc, sau khi bế mạc hội nghị, trở về đơn vị của mình. Chúng tôi can ngăn nhưng họ không nghe và cương quyết ra đi…


16 giờ 30. Bỗng có mấy tiếng nổ lớn của mìn clây mo rồi tiếng súng AR15, tiếng lựu đạn, phóng lựu M79 dồn dập khoảng hơn 20 phút, từ hướng bưng Đức Huệ dội lại. Linh cảm mách bảo chúng tôi: Các đồng chí ấy bị địch phục kích rồi! Không một tiếng súng AK đáp trả. Chúng tôi nhìn nhau và đều hiểu: “Thế là hết!”.


Tối hôm đó, điện của Trung đoàn báo tin, cơ sở cách mạng của ta cho hay: Đại đội thám sát 773 của tiểu khu Hậu Nghĩa đã phục kích bằng mìn rồi dùng súng bắn chết 13 trên tổng số 14 đồng chí. Duy nhất, chỉ một đồng chí thông tin may mắn thoát được. Bỏ máy lại (mọi người cũng không hiểu vì sao cậu ta lại thoát chết!). Cũng tối hôm đó, đài Phát thanh Sài Gòn (nguỵ) loan tin “Quân lực Việt Nam cộng hoà đã hạ sát một trung đội ác ôn Việt cộng, thu nhiều chiến cụ cùng chiến lợi phẩm” (qua giấy tờ, huân, huy chương và quà tặng nên chúng biết rất rõ) đồng thời quyết định khao thưởng cho đại đội thám sát ác ôn 773 này.


 Nỗi đau tắc nghẹn. Trung đoàn mất 13 đồng chí có nhiều chiến tích trong các chiến dịch. Đó là nguồn cán bộ cốt cán có năng lực trong tương lai. Một tổn thất to lớn đối với trung đoàn. Còn tôi, có nỗi đau riêng. Tôi mất đi hai ngươi đồng hương thân thiết. Nhất là Hà Duy Hưng người bạn học, ngồi cùng bàn, cùng lớp…


Cho đến bây giờ, di cốt các liệt sỹ đó, đã có ai tìm được và đưa vào nghĩa trang nào chưa? Tôi cũng không được rõ. Tôi đã mấy lần đến nhà ông Hà Duy Mân, ông cụ thân sinh Hà Duy Hưng, đã gần tám mươi, tóc bạc như cước. Ông đón tôi và cho biết vẫn chưa tìm thấy mộ Hưng. Tấm lưng trần của người cha mỏi mòn, khắc khoải trông đợi tin con, giờ đã còng rạp hẳn xuống. Đã hai lần, tôi viết thư cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An và Huyện đội Đức Hoà, Đức Huệ nhờ họ tìm tung tích của các liệt sỹ hy sinh trong trận ấy, nhưng đến nay vẫn biệt vô âm tín…


… Chúng tôi trở lại Hội Đồng Sầm, sau đó về Gò Nổi. Nhiệm vụ lúc này là không tổ chức đánh lớn như hồi 1972 hay đợt bảo vệ Hiệp định Paris vừa qua. Chúng tôi thường xuyên tổ chức các trận đánh nhỏ, lẻ. Đánh tàu, tập kích hoặc vào ấp chiến lược để làm binh vận, tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho nhân dân. Cũng có khi phải tổ chức chống càn, vì bọn địch thường càn ra bưng để thăm dò nhằm tiêu diệt lực lượng ta.


Sau chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari, khi chúng tôi rút đi rồi, bọn địch ở đây ngoan cố lấn chiếm, đóng thêm mấy cái bốt nữa. Gò nổi, An Ninh có bốt An Sơn, bốt Rạch Gần. Tân phú có bốt Rạch Nhum bên bờ sông Vàm Cỏ. v.v… Mục đích đóng các bốt đó là để ngăn chặn ta từ xa. Chúng tôi được giao nhiệm vụ phải nhổ cho bằng được chúng. Nhưng chưa có thời cơ. Bởi vậy, thường phải vác cối 81li đi tập kích vào bốt hoặc phục kích đánh nhỏ lẻ khi bọn địch nống ra thăm dò. Cách đánh của chúng tôi là ba đến bốn người, sáng sớm, vào sát đồn, bí mật theo dõi địch, chờ cho chúng kéo ra rồi vừa bám vừa rút dần. Đến một địa hình nào thích hợp, nhắm vào tốp đi đầu bắn một vài trái B40 cùng mấy loạt AK vào đội hình địch, tiêu diệt một số tên rồi tháo chạy về cứ. Làm như vậy, kẻ địch hoang mang, không dám càn ra.


Sau một quá trình điều nghiên, tiểu đoàn quyết định giao cho chúng tôi tập kích bằng hoả lực vào bốt Rạch Nhum.


 Hôm ấy, tôi và Nguyễn Hữu Dĩnh (Sơn Thịnh, Hương Sơn) bắn B41.Vũ Duy Tòng (Diễn Châu) B40, Chu Văn Lương (Quỳnh Lưu) và Đào Xuân Nhuận (Đức Thọ) bắn trung liên. Phạm Khắc Đính, Nguyễn Viết Kỷ (Can Lộc) và  Nguyễn Văn Tý (Yên Thành) cối 60 ly.


Đường tiềm nhập vào bốt phải vượt qua một quãng bưng chừng 300 mét trống trải. Nước sâu đến bụng. Liều phóng B41, B40 phải dùng ni lon gói chặt, buộc kín khỏi ngấm nước. Mọi người đội cỏ lên đầu để nguỵ trang. Súng và đạn phải dìm xuống nước rồi kéo theo người. Chúng tôi tổ chức tập kích ban ngày để tạo yếu tố bất ngờ. 13 giờ, tất cả lấy lại đồng hồ và xuất phát, hẹn đúng16 giờ nổ súng. Chúng tôi chia thành ba mũi để tránh bị lộ mục tiêu. Đồng bưng trống trải. Tên lính gác trên chòi mải nhìn ra hướng bờ sông mà không để ý gì phía chúng tôi. Chúng hoàn toàn không ngờ bị tập kích từ phía sau. Chúng tôi nhích từng tấc một. Chỉ khoảng trên 300 mét mà phải vận động mất gần ba tiếng đồng hồ mới vào được đến chân hàng rào thứ nhất. Da bị ngâm nước lâu nên dợt ra. Tôi lợi dụng một gốc cây tràm nép vào. Phía tay phải tôi, Dĩnh và Tòng cũng đã vào đến chân hàng rào. Chúng tôi liếc nhìn đồng hồ. Còn 10 phút nữa sẽ đến giờ nổ súng. Cẩn thận, mọi người gỡ liều phóng ra khỏi bao nilon rồi lắp hết vào đuôi đạn, đặt sẵn bên cạnh để khi nổ súng là bắn hết. Khoảng cách từ chỗ chúng tôi bắn đến chỗ bọn lính chừng 80 mét.


 


       


Lúc này, nhìn vào trong sân đồn, gần đống bao cát, bọn lính, một số đang ăn uống gì đó, một số khác đang đánh bài, sát phạt nhau. Có mấy thằng đang ngồi trên bao cát, nghêu ngao ca vọng cổ…


Chúng tôi liếc nhìn đồng hồ rồi nhìn nhau, khẽ gật đầu. Chiếc kim nhích từng nấc một. Còn mấy giây… Tôi nhấc B41 lên vai, đứng thẳng dậy dựa vào cây tràm, hướng vào sân đồn, nơi bọn lính nhốn nháo, há miệng, bóp cò (há miệng để tránh sức ép của đạn). Một tiếng nổ chói tai. Quả đạn xé không khí lao đi, cắm phập vào giữa sân. ánh chớp màu da cam và khói trùm lên. Nhiều tiếng nổ tương tự phát ra từ chỗ Dĩnh và Tòng. Tên lính gác lộn nhào từ trên mi-đo (chòi gác) xuống, trông rất rõ. Chúng tôi bắn liên tiếp vào mấy cái lô cốt đến lúc hết cơ số đạn. Tôi và Dĩnh bắn B41, mỗi người 4 quả, Tòng B40, 6 quả. Phía sau, Nhuận, Lương bắn hết 2 “nồi” (băng) trung liên, khoảng 600 viên. Đính, Kỷ và Tý cấp tập gần ba chục trái cối 60 ly vào đồn, dìm đầu bọn sống sót để chi viện cho chúng tôi quay trở về công sự. Vì vướng cỏ và bưng nước sâu quá, nên vừa bơi vừa lội. Còn khoảng gần 100 mét nữa là về đến nơi thì pháo chụp từ Hiệp Hoà bắn đến. Từng quầng lửa loé sáng trên không và tiếng nổ chát chúa. Mảnh găm xuống như mưa. Rất may là không một ai hy sinh hay bị thương gì cả. Nhưng đáng mừng hơn là vừa về đến công sự, kịp kéo lá nguỵ trang lại thì trực thăng phành phạch lao tới. Nếu chậm chút nữa thì chúng tôi chẳng còn một ai. Trực thăng sẽ bắn chết hết. Ai nấy tưởng chừng như đứt hơi vì mệt. chiếc “cán gáo” quần thảo một lúc, xả đạn 20 ly vào những chỗ nghi ngờ rồi chuồn thẳng về phía Hậu Nghĩa.


Khi trận đánh xảy ra, có một tình huống hết sức buồn cười, mà sau đó chúng tôi mới biết. Số là, trước khi nổ súng, ở bên kia sông, anh Đinh Văn Luận, đại đội phó (quê Thanh Xuân, Thanh Chương, nay là trung tá, về hưu tại khối 12 phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An) đã trèo lên một cây cao để quan sát. Khi thấy chúng tôi bắn trúng vào chỗ bọn lính đang ngồi và mấy cái lô cốt, Luận khoái quá, quên mất mình đang ở trên cây, nên thả tay ra để hoan hô. Anh rơi từ độ cao chừng 10 mét xuống. Nhưng rất may, ở bên dưới là sình lầy, nên không việc gì. Luận bị giắt sâu xuống bùn, ngoi mãi mới lên được. Địch bị tiêu diệt gần hết. Số bị thương và sống sót hoảng loạn. Ta phá huỷ hai lô cốt và bắn sập chòi gác. Tối hôm ấy, bọn tàn quân vội vã tháo chạy bằng đường sông khỏi cái bót mới lấn chiếm.


Hồi đó, tôi bị chứng “mề đay” hành đến khổ sở. Lúc còn ở nhà, tôi được bà ngoại chữa cho bằng nhiều loại thuốc Nam nhưng chưa khỏi. Khi vào chiến trường, do lội bưng, ngấm nước nhiều nên bị lặm, đau bụng liên tục. Lần ấy sau khi nhổ xong bốt, cơ sở cách mạng của ta ở Tân Phú ra thăm và tặng quà chúng tôi. Chú Ba và má Sáu là những người thương tôi nhất vì trong mắt họ, tôi là người nhỏ dẻ và dễ thương, lại luôn bị chứng “mề đay” làm khổ. Chú Ba chỉ vào tôi bảo: “Thằng Hai Sơn nhỏ con, ốm nhách và bịnh như vầy, tụi bây giao B41 cho nó, làm sao nó bắn?”. Tôi chỉ cười. Quả thật, bắn B41 rất hại sức khoẻ. Tiếng nổ tuy không chói tai như B40 nhưng rất lớn. Chỉ cần bắn một trái là máu tai đã chảy ra rồi. Trong khi B40 phải ba trái mới chảy máu tai. Biết tôi bị chứng “mề đay”, chú hứa: “Thôi được, để hôm nào tao chữa cho”. Nói vậy nhưng hôm sau, thấy chú mang ra một “xị” (250 ml) rượu đế cùng một vật gì đen đen như hạt đỗ. Chú bảo: “Mày nuốt đi cùng với xị rượu này, sẽ khỏi ngay!”. “Gì vậy, chú?”- Tôi hỏi. “Thì mày cứ làm như tao biểu!” – chú nói. Tôi nhắm mắt, đưa vật lạ ấy vào miệng, hớp một ngụm rượu rồi nuốt nhanh vào bụng. “Uống thêm ngụm nữa”- chú giục. Tôi làm theo lệnh chú. “Vậy là ổn rồi đó nghen!”. Chú cho biết: “Đó là cái mật rắn hổ mang”. Má Sáu kể: “Ngay sau khi ở bưng trở về, cả buổi chiều hôm đó, ổng tất bật đi tìm hang rắn, cuối cùng đào được con rắn đó. Thịt thì buổi tối ổng nhậu, còn mật thì sáng nay, mang ra cho mày”. Điều chú nói không sai, từ đó đến nay đã 32 năm, tôi không hề bị chứng “mề đay” làm khổ nữa. Quả là thần dược!


Trong tiểu đội, tôi và Nguyễn Viết Kỷ được má Sáu yêu quý nhất. Nhà má nghèo nhưng má thương tụi tôi lắm. Má có người con gái út (út Lan) năm đó mới chừng 17 tuổi (chúng tôi thường gọi cô út). Má biểu: “Nó ưng thằng nào thì ngày thống nhứt, tao cho không hà!”. Tôi chỉ cười, nhưng Kỷ thì có vẻ quyến luyến cô nàng lắm. Thật ra thì cô gái  dễ thương. Khi ra bưng với má, thấy chúng tôi làm thịt cá rô không đánh vẩy, cô bé cười ngất, giành lấy dao và cá rồi thoăn thoắt làm, trông rất điệu nghệ, không lóng ngóng như chúng tôi. Cô bé rất mến tôi và Kỷ. Thỉnh thoảng liếc mắt, tôi thấy em lén nhìn tôi. Tôi ý tứ, rồi gán ghép cho Kỷ luôn. Kỷ khoái lắm. (Bởi hai chúng tôi làm sao có thể cùng yêu một người. Nghe ra có vẻ như là tôi… cao thượng lắm? Thực lòng tôi cũng xao động trước nhan sắc và tình cảm của em dành cho mình, nhưng biết làm sao được trong khi tôi và Kỷ lại hết sức thân nhau, không thể cùng yêu một người)…


Hồi đó ở bưng, nước phèn nên quần áo mau hỏng. Quân trang chưa được cấp phát, chúng tôi chỉ dựa vào dân. Má Sáu nghèo nên không thể cho hết anh em trong đơn vị. Lâu lâu ra, má và em thường mua cất riêng, rồi lén đưa cho tôi và Kỷ, khi thì cái quần cộc khi thì cái áo vải “pô lin phăng” (pô pơ lin pha nilon) màu lá. Lúc này, đối với chúng tôi, đó là thứ “xa xỉ phẩm “. Những hình ảnh ấy, những ân tình sâu nặng ấy đã hơn 30 năm qua rồi, tôi vẫn khắc sâu trong dạ, luôn tự hứa và thầm nhắc với mình: Phải sống sao cho xứng đáng với tình cảm và tấm lòng trung trinh của người dân cách mạng Long An “Trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc”.


ở bưng Tân Phú, chúng tôi phải ém quân trên những bờ kinh, hai bên nước mấp mé bờ. Không thể đào công sự trú ẩn. Đêm đêm, pháo địch bắn ra bưng tràm, chúng tôi không thể mắc võng nằm được. Mà phải lội xuống bưng, be bờ, tát nước, vét bùn, sau đó rải cỏ vào rồi dùng tăng nilon lót lên để có thể ngủ. Nhiều người, đêm không may vỡ bờ be, nước tràn ngập chỗ ngủ gây sặc nước, thân thể ướt sũng như chuột lột. Nếu giăng võng nằm, pháo bắn, ngủ quên sẽ chết vì đạn pháo. Đã có nhiều đồng chí hy sinh khi đang ngủ. Đêm đạn pháo nổ, sáng mai đã chết cứng trên võng vì mảnh găm vào.Thời điểm ấy chúng tôi khát ngủ vì mất ngủ triền miên hàng tháng trời cho những chiến dịch. Một khát khao hết sức bình dị lúc ấy là ước gì có được một chỗ đất tương đối khô ráo, không có sự đe doạ của bom, pháo để trải tấm tăng nilon ra rồi vùi vào ngủ một giấc đến mấy ngày đêm liền. Vậy mà không thể có cách gì thực hiện được cái ước mơ nhỏ nhoi mà cháy bỏng ấy. Bởi mật độ bom pháo dày đặc, trực thăng quần đảo, săm soi liên miên. Rồi các trận đánh cứ nối tiếp nhau liên tục. Tôi còn nhớ cái đêm định mệnh ấy, ở bưng Tân Phú đồng chí Nguyễn Văn Ước (Diễn Châu, Nghệ An), đại đội trưởng đại đội 16 trực thuộc (cối 82 ly) đang ngủ, một trái pháo 105 ly của địch “đánh đáo” ngay chỗ nằm. Sáng ra, chúng tôi chỉ nhặt được không đầy một túi nhỏ thịt xương. Những tổn thất như thế làm cho lực lượng chúng tôi ngày một mỏng hơn…


Sau trận đánh nhổ bốt Rạch Nhum nói trên, chi bộ thấy thời gian thử thách cùng những thành tích chiến đấu và lập trường tư tưởng của tôi không có vấn đề gì phải băn khoăn nữa, nên đã họp bất thường ra quyết nghị kết nạp tôi vào Đảng.


Ngày mùng 1 tháng 7 năm 1973, tôi chính thức được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam. Lúc bấy giờ ở chiến trường nên lấy tên là Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam. Như vậy là sau gần hai năm phấn đấu bền bỉ, không mệt mỏi với những tháng ngày gian khổ vượt Trường Sơn và trực tiếp chiến đấu ở những chiến dịch ác liệt nhất: Mùa hè 1972 và bảo vệ Hiệp định Paris cộng với lòng kiên định và tin tưởng vào thắng lợi của Cách mạng, cuối cùng Chi bộ C2, D8, E271 (Đại đội 2, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 271) đã chuẩn y kết nạp tôi vào Đảng. Tôi nhớ mãi giây phút đồng chí Chính trị viên Nguyễn Văn Cầu, Bí thư chi bộ, đọc quyết định kết nạp và tôi giơ cao nắm tay thề dưới Đảng kỳ năm ấy. Giờ phút thiêng liêng đó như một sự ghi nhận của Đảng đối với cá nhân tôi về tinh thần yêu nước; sự trung thành với cách mạng; lòng thuỷ chung, tận tuỵ với đồng đội và sự cống hiến xương máu cho chiến thắng. Với Đảng, tôi gắng vẹn toàn chữ  Trung. Với dân tôi lo tròn chữ Hiếu. Với đồng đội, tôi tự hào đã thực hiện trọn vẹn lời thề thứ bảy của Quân đội nhân dân Việt Nam: “Trong tình thương yêu giai cấp, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội… lúc thường cũng như trong chiến đấu…”. Tôi luôn tự hứa và thầm nhắc với mình, cần phải cố gắng hơn nữa. Không làm điều gì để phương hại đến uy tín và danh dự của người Đảng viên Cộng sản và tủi hổ vong linh những bạn bè, đồng đội đã hy sinh…


Đến thời điểm này (3/2005) chỉ còn hơn ba tháng nữa là tôi tròn 32 tuổi Đảng. Trong suốt 32 năm ấy, tôi tự hào thấy mình chưa bao giờ làm điều gì trái với những lời thề trong buổi lễ kết nạp ở chiến trường tuy đơn sơ mà hết sức trang trọng và thiêng liêng lúc14 giờ ngày 01/7/1973.


Có thể nói, đó là một dấu ấn sâu đậm và bước ngoặt trong đời sống chính trị của cá nhân tôi…


… Chúng tôi nhận nhiệm vụ trở lại Gò Nổi để đứng chân tiếp tục đánh địch lấn chiếm. Nơi đây, chúng vừa mới đóng thêm bốt An Sơn trên lộ 8 cách đồn Lớn (Lộc Giang) chừng hơn một kilômét. Lại thêm một nhiệm vụ nặng nề và khó khăn đối với chúng tôi. Cấp trên yêu cầu buộc phải nhổ cái gai này.


Chúng tôi cùng trinh sát đặc công, mất nhiều thời gian, ban đêm bò vào điều nghiên, thăm dò, nhằm tìm ra phương án tác chiến khả thi nhất để nhổ bốt An Sơn.


Công việc điều nghiên phải được tiến hành vào những đêm tối trời. Vì trăng sáng, địch dễ phát hiện được. Mỗi tháng chỉ có hai dịp, thượng và hạ tuần. Sau gần hai tháng điều nghiên vất vả, chúng tôi đã nắm được cơ bản toàn bộ sự bố phòng của chúng. Xong xuôi, tổ chức lên sa bàn cụ thể và hoạch định phương án tác chiến tỷ mỉ.


loading...

Chúng tôi nhổ bốt An Sơn vào một đêm cuối tháng 10 năm 1973. Hai mũi đột kích vào hai hướng. Tôi vào hướng đông với mũi trưởng là anh Báo (Cẩm Xuyên). Hướng đông nam mũi trưởng là anh Lưu Xuân Tiết (Hoàng Quế, Đông Triều, Quảng Ninh). Mìn ĐH10 được đặt ở những vị trí quy định như trên sa bàn. Chúng tôi người trước, người sau thành một dây. Vừa bò vừa phải dò mìn đồng thời cõng trên lưng trái mìn định hướng 10 kg, mồ hôi vã ra như tắm. Định vị xong mìn, chúng tôi bò giật lùi và cẩn thận dòng dây điện ra theo…


… Giờ G đã điểm. Từ hai hướng, mìn ĐH10 đồng loạt nổ dậy đất, mấy dãy hàng rào “bùng nhùng”, “cũi lợn” bị thổi tung, khai thông một lối lớn. Chúng tôi xông lên. Hoả lực B40, B41, trung liên kiềm chế các các lô cốt đầu cầu. Mọi người dùng thủ pháo tung xuống những chỗ nào có tiếng la hét. Trận đánh kết thúc nhanh chóng. Bốt An Sơn bị diệt gọn. Một đại đội địch bị xoá sổ. Ta hy sinh hai đồng chí. Tôi nhớ một tình huống. Anh Trần Đức Khâm (Sơn Tân, Hương Sơn, hiện là cán bộ Viện kiểm sát Hương Sơn, Hà Tĩnh), khi trận đánh giải quyết gần xong, bỗng nghe có tiếng nói dưới hầm, Khâm nghi ngờ có bọn lính ẩn nấp ở đấy. Thay vì đánh thủ pháo xuống, sẵn AK (báng gập), anh quạt luôn một loạt xuống đó. Không ngờ, phía bên kia một tên lính còn sống sót trông thấy, liền ném một quả lựu đạn gần chỗ phát ra ánh sáng đầu nòng. Khâm không chết, nhưng bị thương. Một mảnh gang găm vào cánh tay. Phải đi viện. Đó cũng là một bài học kinh nghiệm trong tác chiến công đồn ban đêm cho chúng tôi sau này…


…Cuối năm 1973, bất ngờ, trung đoàn 271 nhận lệnh: Để lại một tiểu đoàn bổ sung cho bộ đội chủ lực địa phương Long An (thuộc tỉnh đội Long An). Các đại đội trực thuộc và hai tiểu đoàn còn lại, nhanh chóng hành quân ra chiến trường Quảng Đức, Bù Đăng (Bình Phước) nhận nhiệm vụ mới.


Một cuộc chuyển quân và xáo trộn về quân số, dẫn đến sự xáo trộn về tư tưởng và tâm lý. Lúc bấy giờ, có nhiều tin đồn là Trung đoàn được điều ra Bắc để rút kinh nghiệm đánh địch đồng bằng. Chúng tôi, ai nấy đều muốn đi theo đội hình Trung đoàn. Không ai muốn ở lại chiến trường Long An. Nhưng, như một định mệnh, trung đoàn quyết định để tiểu đoàn 7 ở lại, đồng thời cử các đồng chí Lê Văn Hàn (Yên Định, Thanh Hoá), tiểu đoàn trưởng; Nguyễn Sỹ Nghi (Đức Thọ, Hà Tĩnh), Chính trị viên tiểu đoàn; Nguyễn Văn Hảo (Tiền Hải, Thái Bình), tiểu đoàn phó; Nguyễn Huy Cơ (Nam Hà), chính trị viên phó tiểu đoàn. Rất nhiều người đã bỏ đơn vị, chạy theo Trung đoàn vì cứ tưởng sẽ được ra Bắc. Các đồng chí Hàn, Nghi,  Cơ, Hảo sau giải phóng đều không ai hy sinh cả. (Đồng chí Nguyễn Sỹ Nghi, Chính trị viên tiểu đoàn 7. Hiện nay nghỉ hưu tại phường Hưng Bình, thành phố Vinh, Nghệ An).


Tôi cũng nằm trong số anh em được điều động từ các tiểu đoàn 8, 9 và các đại đội trực thuộc bổ sung cho tiểu đoàn 7. Có thể nói, đây là một tình huống đầy khó khăn, thử thách về lập trường tư tưởng đối với những người ở lại như chúng tôi. Như vậy là tính đến thời điểm này, tôi đã có mặt và chiến đấu trong đội hình của hai tiểu đoàn 9 và 8 từ tháng 3/1972; giờ đây tôi được điều về từ tiểu đoàn 8 để bổ sung cho tiểu đoàn 7, làm bộ đội chủ lực địa phương Long An. Thực tình, lúc ấy, tôi cũng dao động, muốn đi theo Trung đoàn chứ nào muốn ở lại Long An! Tuy vậy, vì yêu cầu nhiệm vụ, chúng tôi phải chấp hành.


Trung đoàn hành quân ra Quảng Đức. Còn chúng tôi sau đó lại vượt bưng Đức Huệ, trở lại Đức Hoà, Long An.


Lần ấy, tôi và Vũ Duy Tòng không may bị ốm. Đơn vị hành quân xuống Gò Nổi, hai chúng tôi ở lại cứ thuộc bưng Đức Huệ. Bấy giờ đã gần Tết Nguyên đán Giáp Dần (1974). ở đấy có hai vợ chồng của một người trốn lính (không đi quân dịch cho chế độ nguỵ Sài Gòn). Bà vợ hết sức khó tính. Tuy nhiên có hai đứa cháu gái, từ chỗ sợ sệt rồi tò mò muốn xem “Việt Cộng” ra sao, đến lúc họ gần gũi và mến chúng tôi lúc nào không hay. Một cô chừng 18 tuổi ở Đức Huệ, một cô chừng 20 tuổi nghe đâu ở trên Sài Gòn, thỉnh thoảng lại ra thăm và tiếp tế cho ông chú hay cậu gì đó trốn lính. Từ khi có hai chúng tôi, các cô ra thăm ông ta thường xuyên hơn. Nhưng có lẽ đó là cái cớ để được gặp và nói chuyện với chúng tôi. Tôi và Tòng vốn thân nhau ngay từ khi mới về tiểu đoàn 7. Bởi Tòng cũng khá giống tôi về hoàn cảnh. Cả hai đang học dở cấp III thì nhập ngũ, rồi đi B (đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam – chiến trường B). Chúng tôi yêu thích thơ văn và hay lãng mạn hoá cuộc sống gian khổ, ác liệt ở chiến trường. Lần này, tôi và cậu ta ở lại. Hầu như khoảng vài ngày thì hai cô lại ra một lần. Mỗi lần ra thì ở lại mấy hôm mới về. Hai cô gái ấy là cầu nối giữa chúng tôi với bà vợ khó tính của người trốn lính ấy. Từ chỗ là một người gần như “không thể đội trời chung” như vậy, bà ta dần dần bắt chuyện với chúng tôi. Một thời gian ngắn sau thì “bình thường hoá” quan hệ và rất gần gũi chúng tôi. Đặc biệt hai cô gái thì gần như đã “say” chúng tôi thật rồi. Họ thổ lộ: “Tiếp xúc với mấy anh “Giải phóng”, tụi em thấy thật dễ thương, thật dễ gần chứ hổng phải như tụi lính “Quốc gia” (nguỵ). Mấy anh coi hiền khô hà!”. Tôi và Tòng thường nhận được những món quà nho nhỏ, mỗi lần các cô ra bưng “thăm chú”.


Một buổi tối, vào khoảng 20 giờ, chúng tôi đang ngồi uống trà và kháo chuyện với nhau trong lán dưới ánh đèn cầy (nến), bỗng đạn pháo từ Đức Huệ rít xẹt qua đầu rồi nổ cách chỗ chúng tôi chừng vài ba trăm mét. Hoảng quá, hai cô ôm chặt lấy tôi và Tòng. Tôi bảo họ: “Hãy bình tĩnh, tụi tôi dẫn xuống hầm”. Tôi và Tòng dẫn hai cô gái chạy ra công sự tránh pháo cách đó chừng 5 mét, chui xuống. Xuống hầm rồi, lòng hầm tối om. Và không những họ không buông chúng tôi ra mà còn ôm chặt hơn hơn. Tôi mắc cỡ (xấu hổ), gỡ tay cô gái ra nhưng cô ta càng riết chặt hơn. Tôi đang lúng túng, chưa biết xử trí thế nào thì bất ngờ, cô gái kéo đầu tôi ghì sát vào ngực mình rồi cúi xuống đặt vào môi tôi nụ hôn… Một mùi hương từ thân thể con gái quyện với dầu gội đầu ngan ngát toả ra… Một tình huống hết sức bất ngờ! Tôi hoảng quá, đẩy cô gái ra. Nhưng càng đẩy, cô ta càng ôm chặt hơn. Hình như Tòng cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Bởi tôi lờ mờ nhận ra điều ấy… Lần đầu tiên trong đời, tôi “bị” một cô gái “tặng” hôn như thế! Tôi vội nói lảng: “Thôi Tòng ơi, lên thôi! Hết pháo rồi!”. Tôi gỡ tay cô gái ra rồi trườn nhanh lên khỏi công sự. Mọi người lục tục lên theo. Chúng tôi chia tay. Hai cô gái về lán của ông chú còn chúng tôi trở lại lán của mình. Đêm ấy, tôi và Tòng thao thức, kể cho nhau nghe những gì đã xẩy ra. Thì ra Tòng cũng “bị” y như tôi. Một sự trùng hợp thật “ngẫu nhiên”. Sáng hôm sau, hai em đến chào chúng tôi để về sớm. Gương mặt rạng rỡ của hai cô gái không hề tỏ ra một chút bối rối nào, và còn hẹn: “Vài bữa nữa, tụi em lại lên thăm mấy anh”. Không ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi gặp hai cô gái “vô tư” và “liều lĩnh” ấy.


Mấy ngày sau, bất ngờ chúng tôi nhận đựơc lệnh phải khẩn trương trở lại đơn vị để chuẩn bị vào chiến dịch. Thực lòng, từ lúc nhận lệnh, tôi và Tòng nôn nao mong gặp lại hai cô gái ấy để nói lời tạm biệt sau chót. Nhưng chờ mãi đến 4 giờ chiều, cũng chẳng thấy các cô đâu? Đã đến giờ hành quân, chúng tôi chỉ biết gửi lại lời nhắn cho ông chú “trốn lính” rằng: “Chúng tôi cảm ơn hai cô đã “giúp đỡ” chúng tôi rất nhiều. Hẹn ngày tái ngộ…”


Đã trên 30 năm có dư, kể từ ngày tôi và Vũ Duy Tòng chia tay hai cô gái kia vào một buổi sáng cuối năm 1973. Bấy giờ, sắp đến Tết Nguyên đán Giáp Dần…


…Giờ đây, thời gian chắc đã đưa hai cô gái ngày ấy lên thiên chức mới. Không biết có lúc nào đó trong cuộc đời mình, họ lại được gặp lại nhau để nhớ về kỷ niệm “ngọt ngào” trong một đêm bị pháo kích ở cứ Hội Đồng Sầm, Đức Huệ năm nào với hai anh giải phóng miền Bắc, mà trước đó trong con mắt họ là hai “Việt Cộng” đáng sợ!


Tôi và Vũ Duy Tòng trở lại đơn vị vào dịp gần Tết. Đơn vị tổ chức đón Tết tại cứ. Đài Phát thanh Giải phóng đưa tin cả ta và nguỵ đều ngừng bắn tại chỗ trong mấy ngày này. Nếu như năm 1973, chúng tôi không có Tết, mà chỉ ăn Tết bằng những trận giao tranh dữ dội bảo vệ Hiệp định Paris, đánh địch lấn chiếm thì Tết này, đơn vị tổ chức cho chúng tôi ăn Tết trước khi vào chiến dịch. Các ba, các má, các chị và cơ sở cách mạng uý lạo cho nhiều quà. Có đủ cả bánh tét, bánh ú, thịt mỡ, dưa hành, thuốc lá, hạt dưa, kẹo… Nói chung là khang trang cho một cái Tết ở chiến trường.


Sau Tết, có tin tình báo, địch sẽ tổ chức một trận càn lớn ra bưng để thăm dò vì chúng đánh hơi được lực lượng ta đang chuyển quân xuống chiến trường. Chúng tôi nhận lệnh phục kích chặn đánh một đoàn tàu chở ba đại đội địch đi càn.


Trung đội 2 chúng tôi do anh Nguyễn Văn Báo, trung đội trưởng, chỉ huy, phục kích chặn đánh đoàn tàu này. Chúng tôi mai phục đã mấy ngày mà tàu vẫn chưa đến. Tranh thủ thời gian, anh em thả lưới và lợp (giống như lờ ngoài Bắc nhưng lớn hơn rất nhiều) ven bờ để cải thiện. Cá, tôm ở sông Vàm Cỏ Đông nhiều vô kể, vì nước sông khi lớn, khi ròng, lắm phù du, sẵn thức ăn. Chỉ cần thả mấy khúc mỳ (sắn) vào lợp rồi buộc dây cho xuống mép bờ sông, qua chừng hai đêm vớt lên, trong lợp ít nhất cũng có cả chục con tôm càng xanh to như vỏ đạn 20 ly. Còn lưới thì sau một đêm thả, gần như mắt nào cũng có cá dính. Nhiều nhất là cá Lòng tong (thịt ngon nhưng rất nhiều xương). ở đây, không bao giờ thiếu thực phẩm tươi. Ai đã từng đến và chiến đấu ở mảnh đất này cũng chí ít một lần được thưởng thức cơm gạo Nàng Thơm ăn với cá bống kèo kho, một đặc sản duy nhất mà chỉ ở miền hạ Long An mới có được. Chỉ cần một lần thôi là đủ để nhớ cả đời. Có thể nói nó vừa là đặc sản nhưng đồng thời đã trở thành nét văn hoá ẩm thực của người dân vùng quê này từ bao đời. Nét văn hoá ấy đã đi vào lời ca điệu nhạc của cải lương tài tử:


   “…ơi miền Hạ trải màu xanh bát ngát,


  Anh quý gạo Nàng Thơm con cá bống kèo.


  Nhưng… xích xe tăng đã cày nát lên những xóm nghèo”…


Đúng như lời ca vọng cổ. Cái vẻ đẹp mang nét văn hoá đậm chất dân gian Nam Bộ ấy đã và đang ngày đem rên xiết dưới sức tàn phá, huỷ diệt của bom đạn và chất độc dioxin của Mỹ. Chiến sự nơi đây vô cùng ác liệt, địch càn quét, đổ chụp, pháo bầy, trực thăng quần đảo liên miên…


Sự chờ đợi đã đến.!Hôm đó là ngày12 tháng 3 năm 1974.


Vào khoảng 8 giờ sáng, ba chiếc tàu “mặt dựng” (há mồm) chở 3 đại đội địch do tên thiếu tá Nghĩa, tiểu đoàn trưởng, khét tiếng ác ôn, chỉ huy. Khi đoàn tàu đi ngang qua quãng sông nơi chúng tôi phục kích, bất ngờ, chúng dồn hết các loại hoả lực bắn như mưa vào trận địa mai phục (chúng chỉ nghi ngờ mà thôi). Đồng chí Báo ra lệnh: “Tất cả chui xuống công sự để tránh đạn và chú ý quan sát động thái bọn địch. Nếu chúng có ý định đổ quân thì thực hiện phương án đã định!”.


Tuy nhiên, sau một lúc bắn như đổ đạn vào bờ sông, nơi có công sự của chúng tôi, không thấy phản ứng gì, chúng nổ máy cho tàu chạy ngược lên phía trên cách chừng 2 km rồi dừng lại. Chúng tôi, ai cũng ngỡ địch sẽ đổ quân càn quét trên đó.


Không ngờ, khoảng hơn một giờ sau, từ xa, chúng tôi phát hiện đoàn tàu 3 chiếc lúc nãy từ từ trôi xuống (chúng lợi dụng nước ròng, tắt máy, thả trôi). Đến ngang trận địa, bất ngờ, nổ máy quay ngang tàu 90 độ, rồi sập cái lưỡi tàu phía trước, từ từ chạy vào bờ. Trên boong, bọn lính tay lăm lăm súng. Thằng Nghĩa cởi trần đứng chống nạnh, tay đeo đồng hồ “Thuỷ quân lục chiến”, da đỏ như gà chọi, hò hét bọn lính chuẩn bị đổ bộ. Chờ cho ba chiếc tàu xáp vào cách bờ chừng 30 mét, chúng tôi đồng loạt phát hoả. B40, B41, trung liên, AK bắn dữ dội vào tàu địch. B40 và B41 cứ nhằm bụng tàu, tống đạn vào. Đạn nổ âm trong khoang làm bọn địch trong đó chết rụi hết. Trung liên và AK rà sát mặt boong. Bọn địch bị bắn, rớt xuống sông như sung rụng. Không một tiếng súng chống trả. Khi tàu đang tiến vào, bất ngờ bị B41 tống vào bụng, nó khựng lại một giây rồi theo quán tính lao vào bờ. Trên boong không còn một tên nào sống sót. Chúng tôi cũng thôi bắn. Lúc này nước đã ùa vào khoang. Tàu đang chìm dần. Khói lửa mù mịt một quãng sông. Có chiếc đã áp sát bờ công sự của chúng tôi. Trong số 11 quả đạn B40 tôi bắn, bị lép mất 2 quả. Còn 9 quả, tôi tống hết vào bụng của hai chiếc tàu gần nhất. Máu tai và máu mũi tôi chảy thành dòng. Lịch sử bắn B40 của tôi trong tác chiến đã đạt đến kỷ lục! Hai tai tôi ù đặc mất khoảng gần hai tuần lễ. Mắt hoa đom đóm. Tôi cũng không giải thích nổi tại sao mình lại có thể bắn một lúc được nhiều đạn như vậy!? Bây giờ thì tôi đã hiểu được vì sao chị Ngô Thị Tuyển (Hàm Rồng,Thanh Hoá), ngày trước, khi trọng lượng cơ thể của mình chưa đầy 50 cân mà một lúc vác hai hòm đạn pháo gần 100 kg chạy lên đồi, tiếp cho bộ đội phòng không!


Hậu quả của trận bị thương ngày 18/5/1972 cộng với quá trình bắn B40, B41 quá nhiều, nên từ đó đến nay, tai tôi luôn luôn như có con ve nằm kêu suốt ngày đêm trong đó. Giờ đây, khi tuổi đã cao, sức khoẻ giảm sút, vết thương cũ tái phát, hành hạ, cơ thể đau nhức; tai tôi lắm lúc ù đặc, nghễnh ngãng, chẳng nghe thấy gì.


Cả ba đại đội địch đi càn, bị nhận chìm trên sông Vàm Cỏ Đông. Chỉ còn duy nhất một tên sống sót (theo cơ sở ta cho biết) chạy lên Toà thánh Tây Ninh trốn biệt. Chúng tôi được lệnh rút khỏi trận địa. Tôi chỉ còn khẩu B40 không đạn nhẹ tênh, chạy một mạch về cứ, tắm giặt rồi mắc võng nằm, lúc ấy pháo từ Hiệp Hoà mới giã xuống trận địa. Ba mươi phút sau, hai chiếc A37 bay tới dội mấy loạt bom. Chúng tôi ở cứ, cách đó hơn 1 km, trèo lên cây nhìn rồi vỗ tay reo!


Đài Phát thanh Giải Phóng, một ngày sau đó, đưa tin: “Ngày 12 tháng 3 năm 1974, Quân Giải phóng trung Nam Bộ đã bắn chìm 3 tàu càn trên sông Vàm Cỏ Đông tiêu diệt 3 đại đội địch, với hơn 180 tên, trong đó, có tên tiểu đoàn trưởng ác ôn” (tức thằng Nghĩa).


Con sông Vàm Cỏ biết bao lần đã ghi dấu chiến tích của chúng tôi và đồng đội trong mỗi trận đánh, nhưng có lẽ lần này là chiến công chói lọi nhất. Dòng sông ấy là đề tàisáng tác bất tận cho các văn nghệ sỹ và nhạc sỹ trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai..


Nhạc sỹ Trương Quang Lục đã rất thành công khi viết giai điệu chắp cánh cho lời thơ của Hoài Vũ để có bài hát nổi tiếng “Vàm Cỏ Đông”. Với âm hưởng và ca từ giàu tính sử thi, đậm chất dân ca Nam Bộ mà mỗi khi cất lên, chúng tôi tự hào như thấy có hình bóng của mình trong đó:


“ơi, Vàm Cỏ Đông, hỡi dòng sông! Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng. Đuổi Pháp đi rồi, nay đuổi Mỹ xâm lăng… Có anh du kích dũng cảm kiên cường. Lẫn ánh trăng mờ băng lửa đạn qua sông. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong!”…


…Trung đội tôi được thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất. Còn tôi và các đồng chí khác cũng vinh dự được nhận Huân chương Chiến công Giải phóng các hạng Nhì và Ba.


Có thể nói, trong lịch sử đánh tàu của đơn vị tôi, thì trận ấy đã ghi một chiến công chói lọi. Thắng lợi nằm ngoài sự mong đợi. Chúng tôi không phí một giọt máu nào.


Mấy ngày sau, chúng tôi trở lại Gò Nổi đứng chân để nhận nhiệm vụ đánh bốt Rạch Gần (An Ninh, Đức Hoà). Đây là bốt do bọn địch mới lấn chiếm sau Hiệp định Paris nhằm phong toả tuyến hành lang vào ấp chiến lược và ngăn chặn việc chuyển quân của ta từ Campuchia xuống theo đường giao liên trong bưng Đức Huệ. Cấp trên giao nhiệm vụ, bằng mọi giá phải nhổ bằng được bốt này. Sau một thời gian dài điều nghiên, đêm 29/3/1974, chúng tôi hạ quyết tâm đánh bốt. Đó là một đêm tối trời. Hai mũi theo phương án đã định bò vào. Mũi 1 do đồng chí Nguyễn Văn Tám (quê Hải Phòng) quyền đại đội phó, làm mũi trưởng. Mũi 2 do Trương Thiên Lý (Thạch Sơn, Thạch Hà, Hà Tĩnh) là lính đặc công của đại đội 25, làm mũi trưởng (Lý hiện thường trú tại phường Nam Hà, thị xã Hà Tĩnh). Hợp đồng đến giờ G (1 giờ sáng) nổ súng. Nhưng khi đang cắt hàng rào thì mũi 1 bất ngờ đụng phải mìn sáng. Bị lộ, bọn địch trong lô cốt và các công sự xả đạn về phía đó. Mũi 2 của Trương Thiên Lý chuyển thành mũi chính, tổ chức đánh cường tập ngay lập tức. Nhưng do lộ quá sớm nên kế hoạch không thành. Mũi 1 có 3 đồng chí hy sinh và một số bị thương tại cửa mở. Tiểu đoàn ra lệnh phải tổ chức tấn công để lấy thương binh tử sỹ ra. Sau mấy đợt phản kích, vẫn không giải quyết xong trận đánh. Không những không lấy được anh em ra mà số thương vong tăng thêm 7 người. Trời đã gần sáng, ta buộc phải rút và đành để thương binh tử sỹ nằm lại. Chúng tôi nhanh chóng lui ra bờ sông rồi xuống xuồng do du kích đón sẵn, trở về bên kia. Tôi kịp lên chuyến xuồng sau cùng trước khi trời sáng. Sau chuyến ấy, xuồng không qua được nữa vì mặt trời đã ló lên phía chân trời. Đồng thời đã nghe tiếng trực thăng phành phạch từ hướng Hậu Nghĩa. Rất nhiều đồng chí sang không kịp, bị kẹt lại bờ bên kia. Các đồng chí ấy, số thì “chém vè” (trốn) dưới bưng. Một số dũng cảm vượt sông để trở về bên này. Nhưng thật đáng tiếc, sông Vàm Cỏ Đông ở quãng này rộng chừng 300 mét nên nhiều đồng chí do đuối sức vì đói và đánh nhau suốt đêm qua, lại mang cả súng, nên ra giữa sông thì chìm. Một số khác đội lục bình (bèo Nhật Bản) trên đầu để bơi, bị trực thăng phát hiện, bắn chìm luôn. Chính trị viên đại đội tôi – đồng chí Tống Minh Sướng (Hà Bắc), may mắn thoát chết, bơi được sang bờ bên này, cố lết về đến chỗ trú quân ở cứ. Một hình ảnh hết sức xúc động: Khi anh về đến nơi, chúng tôi vừa ăn trưa xong. Cơm hết sạch. Anh phải dùng một cái gai, lẩy vào từng hột cơm còn sót lại trong rá để cầm hơi trong khi chờ chúng tôi nấu cơm. Cơm sôi một lúc, tôi múc vội một bát nước, bón cho anh, lát sau anh tỉnh dần…


Bên kia sông, tiếng súng địch vẫn dội lại, vì lúc này chúng đã kiểm soát trận địa. Trực thăng tiếp tục quần thảo, xăm tỉa vào những nơi nghi có “Việt Cộng”. Trận đánh không thành nhưng tấm gương hy sinh của đồng chí Nguyễn Văn Định (Sơn Bình, Hương Sơn, Hà Tĩnh) thì đã trở thành bài ca bất tử về lòng dũng cảm vô song và ý chí tiến công địch đến hơi thở cuối cùng của người chiến sỹ Quân giải phóng miền Nam.


Đêm ấy, trong đội hình tiến công, Định mang thủ pháo đầy mình để làm nhiệm vụ đánh lô cốt đầu cầu. Nhưng khi vào cửa mở, bị lộ. Địch tập trung hoả lực bắn dữ dội vào đó. Anh bị thương gãy đùi. Chúng tôi mấy lần tổ chức phản kích để lấy tử sỹ và thương binh nhưng không thể được. Lại hy sinh thêm nhiều đồng chí nữa. Đành phải để lại. Sáng sớm, bọn địch nống ra giải toả. Chờ chúng đến gần, anh giơ tay vẫy. Chúng tưởng anh xin hàng, liền nhào đến rất đông. Mười mấy thằng xúm lại vây quanh Định. Chỉ chờ có thế. Trong chớp mắt, Định điểm hoả. Một tiếng nổ dậy đất. Toàn bộ khối thủ pháo dưới cơ thể anh bị kích nổ. Mười mấy thằng nguỵ xung quanh anh tan xác. Còn anh, thân thể đã biến thành tro bụi dưới sức nổ của hơn 8kg TNT. Bọn địch sống sót kinh hoàng, khiếp đảm và kính phục anh. Mẩu chuyện tôi viết về Định, người đồng chí kiên cường, quả cảm của chúng tôi là dựa theo lời kể của cơ sở ta do bọn địch có mặt hôm đó kể lại về cái chết quả cảm của một “Việt Cộng” trong trận Rạch Gần.


Đơn vị tổ chức học tập gương chiến đấu dũng cảm của Định, đồng thời quyết tâm trả thù cho anh và các đồng chí khác hy sinh trong trận đánh hôm đó.

Loading...

TIN LIÊN QUAN