Đêm 31 tháng 9 năm 1972.
Các đơn vị bí mật tiếp cận mục tiêu theo phương án đã định. Đại đội 25 (đặc công) và tiểu đoàn 9 sẽ đánh vào hướng chủ yếu. Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 8 dự bị, sẵn sàng chi viện cho đơn vị bạn lúc cần thiết. Đến giờ G (13 giờ 30 ), các đơn vị đã ém gọn theo các vị trí định sẵn chỉ chờ hiệu lệnh là đồng loạt công kích giải phóng căn cứ này. Đại đội 25 chịu trách nhiệm phát hoả trận đánh.

 Tiếp theo phần IV (2)


        


13 giờ 30 phút ngày 01 tháng 10 năm 1972, những tiếng nổ dậy đất của mìn ĐH10 (loại mìn định hướng, 10 kg) do đặc công bò vào đặt dưới các chân rào bùng nhùng, cũi lợn, mái nhà… thổi bay tất cả các loại hàng rào ấy, khai thông một lối lớn vào căn cứ để cùng bộ binh lọt vào tung thâm, tiêu diệt các lô cốt đầu cầu, cùng những ổ đề kháng và hoả lực mạnh của địch.


Anh Nguyễn Đình Diệu, quê Sơn Tiến, Hương Sơn, cũng là lính đặc công đại đội 25 ngày ấy, nay là Đại tá, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh cũng tham gia một mũi thọc sâu đánh vào tung thâm. Bây giờ, thỉnh thoảng anh em chúng tôi ngồi ôn lại kỷ niệm về trận đánh lịch sử năm ấy…


 Bộ binh của tiểu đoàn 9 tràn lên, đánh chiếm căn cứ. Trong vòng chưa đầy 40 phút, chúng tôi đã giải quyết xong trận đánh. Dưới ánh hoả châu, bộ đội ta bắt tù binh, thu vũ khí rồi chất thành mấy đống lớn, dùng bạt che lại để chuẩn bị sáng mai chuyển đi. Thắng lợi đến nhanh hơn cả dự định. Thương vong không đáng kể. Mọi người đang hân hoan với chiến thắng…


 Bỗng đại liên, 12,7 li, M79, M72, súng bộ binh, rồi cối 81 li dồn dập trút đạn về phía chúng tôi. Bất ngờ nên nhiều anh em hy sinh tại chỗ. Được thể, bọn địch xung phong, tấn công dồn dập. Chúng tôi trở tay không kịp vì không có phương án dự phòng. Trời đã tảng sáng. Đại liên địch bắn như mưa vào chúng tôi. Cối 81 li nổ chát chúa. Nhiều người gục xuống. Trời sáng dần. Đây là lợi thế của địch vì chúng nắm hoàn toàn thế chủ động và quan sát rất rõ. Cũng còn may là ở chiến trường Campuchia nên địch không có trực thăng như chiến trường miền Nam của quân nguỵ Sài Gòn. Nếu không, chúng tôi sẽ chẳng còn một ai sống sót. Hoặc, nếu ai may mắn thoát chết, sẽ bị trực thăng đổ chụp bắt làm tù binh hết. Tiểu đoàn 9 thương vong nặng nề nhất, gần như mất hẳn sức chiến đấu. Số chết, số bị thương nằm la liệt trên cánh đồng Công Pông Tra Béc. Số còn lại cố thoát ra khỏi làn mưa đạn của các loại hoả lực, hy vọng vượt qua quốc lộ I phía trước mặt (đường nối từ Gò Dầu lên Phnôm Pênh). Nếu qua được bên kia đường sẽ có cơ thoát chết. Đoạn đường này cao hơn mặt ruộng khoảng 1,5 mét. Nó chắn hết các loại đạn bắn thẳng. Biết ta cố sức vượt qua đường, bọn địch tập trung đại liên và 12,7 li rà sát mặt đường. Đạn cày trên mặt đường toé lửa như trong lò gang. Nhiều đồng chí hy sinh ngay tại chỗ. Chúng tôi ở trong thế bị dồn đến chân tường. Trước mặt, trên đường thì đạn thẳng. Sau lưng là các loại hoả lực khác như M79, M72, cối 81… Tôi không giải thích nổi là làm sao mình cùng một số rất ít anh em, cơ may nào mà vượt qua được bên kia đường trong làn hoả lực khủng khiếp ấy. Tôi cũng không hiểu sao anh Diệu và một số anh em đặc công hôm ấy, cũng may mắn thoát được sang bên kia đường?!…


Thất bại nào cũng có nguyên cớ của nó!


Đó là… quá trình điều nghiên, cánh trinh sát đặc công không phát hiện ra được tuyến hầm ngầm phòng thủ của địch. Tình báo của ta và bạn đều không nắm được sự bố phòng bí mật ấy. Do vậy, không dự kiến hết tình huống, nên đã dẫn đến kết cục thất bại thảm hại và cay đắng đó. Nếu trước đây, tiểu đoàn 7 gần như bị xoá sổ bởi B52 ở rừng Tây Ninh thì giờ đây, tiểu đoàn 9 đã bị lính Lon Nol cho “phơi áo” gần hết trên đất Campuchia. Các tiểu đoàn 7, 8 và các đơn vị trực thuộc cũng bị thương vong, tổn thất rất nặng nề. Chúng tôi thua bọn lính Lon Nol, một đội quân có trình độ tác chiến vào loại tồi. Quả là cay đắng và nhục nhã!


Tôi nói “trận đánh lịch sử” bởi nó mang ý nghĩa như vậy!


Giờ đây, sau 33 năm, chiến tranh đã lùi xa, thời gian đang xoa dịu dần nỗi đau mất mát, chúng tôi mới có dịp nói về sự thật lịch sử của trận Công Pông Tra Béc năm nào. Máu xương của đồng đội tôi đã đổ xuống không biết bao nhiêu trên đất nước Chùa Tháp xa xôi này? Máu vẫn cứ tiếp tục đổ cho đến khi chúng tôi có lệnh rời đất Campuchia để trở về miền Nam, chiến đấu bảo vệ Hiệp định Pari năm 1973.


 Gần đây, qua con số thống kê đang lưu giữ ở quân lực trung đoàn, tôi mới được biết trong chống Mỹ, các trận chiến đấu cũng như hành quân trên Trường Sơn, trung đoàn chúng tôi đã có trên 1300 người hy sinh. Trong đó, chỉ mới quy tập được 543 bộ hài cốt vào 13 nghĩa trang. Số còn lại còn nằm rải rác đây đó trên các chiến trường từ Lào đến Campuchia cùng các vùng bưng biền Nam Bộ như Long An, Tây Ninh, Kiến Tường, Mỹ Tho và Đồng Tháp cho đến Bù Đăng, Quảng Đức, Bình Phước, Lâm Đồng…(số liệu do đồng chí Nguyễn Đình Xưng, nguyên đại đội trưởng đại đội 22 của trung đoàn cung cấp. Nay anh phụ trách công tác chính sách thương binh xã hội phường Đại Nài, thị xã Hà Tĩnh).


Trận Công Pông Tra Béc, ghi thêm một trong những bài học đắt giá cho trung đoàn 271 chúng tôi. Tôi lại nhớ đến câu nói muôn thuở: “Hiện thực của chiến tranh luôn nằm ngoài quy luật thông thường!”


Công Pông Tra Béc thất bại, nhưng có một câu chuyện về tình đồng đội cưu mang nhau trong chiến đấu và hoạn nạn ở trận đánh này thì đã trở thành một huyền thoại, một bài ca bất tử về tình người và lòng dũng cảm; viết thêm truyền thống tốt đẹp vào trang sử quân đội ta. Khi chúng tôi rút khỏi Công Pông Tra Béc, rất nhiều đồng chí của ta bị thương, nằm lại trận địa, không có cách gì cứu được. Họ bị địch bắt rồi giết. Riêng có hai đồng chí ở tiểu đoàn 9 bị thương, kẹt lại trong lòng địch. Họ cố gắng dìu nhau lết bò ngược chiều, rồi lánh được trong sự lùng sục ráo riết của địch. Sau khi tìm được vị trí kín đáo, và tương đối an toàn, họ tìm kiếm cái ăn và tần tảo nuôi nhau. Người bị thương vào mắt thì cố bò đi tìm cái gì đó ăn được để nuôi người bị thương vào chân, nằm tại chỗ. Người bị thương vào chân thì ban ngày không ngủ, cảnh giới cho người bị thương vào mắt, nghỉ lấy sức…


 Họ trốn chui như vậy mấy tháng trời trong lòng địch. Ban ngày, ẩn nấp thật kín. Ban đêm, chờ đến khuya mới dò ra rồi lẻn vào nhà dân Miên, tìm cái gì có thể ăn được như cơm nguội hoặc lấy bớt trứng gà trên ổ… Thậm chí phải ăn cả cám nấu cho heo. Vì nằm ngay trong lòng địch nên bọn chúng hoàn toàn không nghi ngờ. Vết thương thì tìm lá rịt lại; lấy muối cho vào nước lã rồi rửa sát trùng. Điều kì lạ nhất là vết thương của họ tiến triển rất khả quan qua thời gian. Cuối cùng cũng kín miệng rồi liền sẹo. Có thể nói, đây một điều khó tin nhưng lại là sự thật như nó vốn tồn tại. Trong điều kiện bình thường, cũng khó giữ được vô trùng, huống gì trong môi trường hết sức đặc biệt ấy. Phải chăng, sức mạnh của tình người, tình đồng đội đã làm nên điều kỳ diệu?! (Chỉ tiếc rằng tôi không còn nhớ được tên của hai đồng chí đó nữa vì họ ở tiểu đoàn khác, hơn nữa đã quá lâu rồi). Sau đó mấy tháng, trong một chiến dịch khác, Công Pông Tra Béc được giải phóng, hai đồng chí thương binh ấy được cứu ra. Bấy giờ, họ như những người rừng, tóc dài như tóc phụ nữ và cơ thể gầy như vượn. Họ được đưa đi điều dưỡng và sau đó được trở về hậu phương miền Bắc.


Trận đánh đã để lại một dấu ấn về sự thất bại không phai mờ trong tâm khảm chúng tôi. Có thể nói đó là một “Oateclô” của Trung đoàn 271 trong kháng chiến chống Mỹ ở thế kỷ XX. Sau này, mỗi khi nhắc đến trận Công Pông Tra Béc, ai nấy vẫn ngậm ngùi, đau đớn nhớ đến câu ca mô phỏng:


Lực lượng của trung đoàn sau trận ấy còn rất mỏng. Đơn vị được nhận tân binh của các tỉnh từ Thanh Hoá, Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Hải Phòng, Bắc Thái, Quảng Ninh, Thái Bình… bổ sung. Sau đó, nhận nhiệm vụ mới trở lại Long An để chuẩn bị chiến dịch đánh địch lấn chiếm, bảo vệ Hiệp định Pari (27/01/1973).


Ở đất bạn, đêm đêm nhìn về ngọn núi Bà Đen ở Tây Ninh mà lòng bùi ngùi tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống. Chỉ mai kia thôi, chúng tôi lại rời mảnh đất này để trở lại miền Nam nhận nhiệm vụ mới. Sẽ vĩnh viễn xa những người đã nằm xuống nơi đây. Chúng tôi, ai nấy đều nhớ tiếc những đồng đội thân yêu đã hy sinh trên mảnh đất Cam Bốt xa lạ này.


Hai tuần sau, trung đoàn nhận nhiệm vụ quay về Long An.


Ba Thu lại là nơi tập kết, để từ đó, chúng tôi vượt bưng Đức Huệ trở lại Gò Nổi.


Đứng chân ở Gò Nổi, nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp tục vào ấp, tập kích bằng cối 82, đánh nhỏ, lẻ tiêu hao và quấy rối địch. Chống càn và phục kích đánh tàu trên sông. Sau đó không lâu, chúng tôi được lệnh hành quân xuống bưng Hoà Khánh để làm nhiệm vụ mới.


Đêm 20/12/1972, chúng tôi vào một ấp thuộc xã Hoà Khánh để móc nối với cơ sở cách mạng, lấy gạo, thực phẩm và nắm tình hình địch. Cùng đi, có mấy đồng chí du kích và giao liên dẫn đường để liên lạc với cơ sở. Chúng tôi vào ấp trót lọt. Nhiệm vụ của chúng tôi là tiếp xúc với nhân dân để giải thích tuyên truyền chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam rồi sau đó nhận gạo, thực phẩm, thuốc men từ các gia đình cơ sở của ta. Nhớ lại hôm ấy, tôi đã vác B40 vào nhà một trong những gia đình có con là sỹ quan nguỵ. Bởi gia đình này nhiều lần có ý hù doạ rằng sẽ báo với “Quốc gia” (chính quyền nguỵ) về việc các gia đình cách mạng mua giấu gạo, thực phẩm, thuốc men để tiếp tế cho “Việt Cộng”. Tôi nghiêm sắc mặt một cách hệ trọng: “Nói để mấy người hay, tôi không hề có ý hù (doạ) ai. Nhưng nếu một trong những gia đình nơi đây đã giúp đỡ cho bộ đội Giải phóng mà có mệnh hệ gì thì đừng oán trách tôi không báo trước. Tất cả 5 trái B40 này sẽ là “quà tặng” dành riêng cho gia đình đó! Tôi nói là làm! Liệu mà giữ mồm, giữ miệng. Cách mạng chưa hỏi tội đứa con của mấy người đi lính cho Mỹ – nguỵ thì thôi. Lại còn… Việc đâu để đó. Không được bép xép. Nếu không…”. Tôi nói dở chừng rồi đặt khẩu B40 cùng năm quả đạn ở giữa nhà. Mặt ai nấy cắt không còn giọt máu. Ai cũng vâng dạ rối rít. Hứa chẳng dám làm điều gì có hại cho Cách mạng. Tôi xách súng, đạn quay ra, bụng cười thầm…


 Một giờ 30 sáng, chúng tôi rời ấp để ra bưng. Đang đi, bỗng đồng chí du kích giao liên dẫn đường quay lại, ra hiệu cho mọi người ngồi xuống, giãn thưa đội hình và im lặng. Tôi cùng hai người khác bám lên theo anh. Màn đêm nhờ nhờ, không nhìn rõ nhau. Một mùi khét của thuốc đạn lẫn mùi tanh của xác chết xộc vào mũi. Tôi cảnh giác, lom khom bò trên mặt ruộng. Đang bò, tay bỗng chạm phải một vật cứng khum khum hình viên gạch, lạnh ngắt. Mìn clâymo! Tôi rùng mình, dựng tóc gáy, mồ hôi vã ra. Quay nhanh lại phía sau, tôi rít trong cổ họng:


– Tất cả nằm im! Mìn clâymo!


Phản xạ chiến trường đã trở thành một kỹ xảo của người lính. Mọi người ai ở đâu đều nằm im, bất động. Vì nếu không, ai đó chỉ cần lỡ thêm một bước nữa thôi, hai sợi dây đồng trần mỏng mảnh sẽ chập vào nhau. Thế là hết. Cả bãi mìn sẽ đồng loạt “lên tiếng” thanh toán chúng tôi…


Tôi sờ tay vào phía trên trái mìn, nơi có hai kíp nổ ở hai bên. Cẩn thận, xoay tay vặn kíp ra, nhưng chặt quá. Có lẽ chúng dùng kìm vặn nên tôi không thể mở được. Đã nhiều lần gặp phải tình huống này, nên tôi bình tĩnh trở lại, dùng mũi dao găm, tách đôi sợi dây mìn. Sau đó, cẩn thận cắt từng sợi một. Mồ hôi trên mặt chảy thành dòng. Vì chỉ bất cẩn một chút, để mũi dao chạm vào cả hai dây cùng một lúc thì lập tức mìn sẽ nổ. Xong! Tôi thở phào. Thế là ổn. Kinh nghiệm cho hay, tụi nguỵ khi gài loại mìn này thường mắc nối tiếp. Một quả nổ là cả bãi mìn đồng loạt nổ. Chúng tôi đã vô hiệu hoá bãi mìn. Các đồng chí còn lại gỡ thêm được 7 quả. Tôi chợt hình dung: nếu toàn bộ số mìn ấy nổ, tất cả chúng tôi sẽ chẳng còn một ai. Gần 3000 viên bi (mỗi quả clâymo có khoảng 370 viên bi) đồng loạt bắn vào đội hình đang đi, sẽ không một ai thoát chết. Gỡ xong mìn, chúng tôi đến bên 3 cái xác của anh em du kích Hoà Khánh. Có một phụ nữ. Mọi người cẩn thận buộc dây dù vào người họ rồi kéo dịch ra khỏi chỗ nằm, đề phòng địch gài lựu đạn dưới xác. Nhưng lần này thì không. Chắc chúng nghĩ: chúng tôi sẽ không thể thoát khỏi bãi mìn ấy. Một trong ba đồng chí bị chúng đánh lựu đạn đến nát cơ thể, gần như đứt làm đôi, chỉ còn khúc xương sống dính da. Bốn người mang đồng chí ấy; một số đồng chí khác khiêng hai đồng chí còn lại ra cứ để bàn giao cho du kích Hoà Khánh mai táng. Tôi nhớ, sau khi bàn giao thi thể các đồng chí hy sinh cho du kích địa phương, chúng tôi ai nấy đều cảm thấy đói cồn cào. Mùa khô nên không có nước rửa tay, chúng tôi huơ tay trên ngọn cỏ dính sương đêm cho đi bớt máu rồi lau tạm vào thân áo, sau đó bẻ cơm nắm, ăn. Mùi máu đồng đội vẫn còn phảng phất nơi bàn tay.


Nguyên do trận ấy, trước đó lúc chập tối, có mấy đồng chí du kích địa phương đã bí mật bám địch để tiếp cận vào ấp, đến đây thì đụng bọn địch phục kích. Do lực lượng nhỏ quá nên không thể phản kích lấy tử sỹ, đành phải rút. Bọn chúng đoán thế nào cũng sẽ có người quay lại lấy tử sỹ nên đã gài chăng mìn đón lõng. Lần này, nếu chúng nằm lại phục kích thì chắc chắn chúng tôi sẽ hy sinh nhiều. Chúng tôi hoàn toàn bị bất ngờ trước tình huống này…


Ở lại Hoà Khánh thêm mấy ngày nữa, lần này chúng tôi có dịp thưởng thức món đặc sản tại vùng đất Trung Nam Bộ. Trên những bờ kinh (kênh), chim nhiều vô số. Chúng tôi ăn trứng và thịt chim non thoả thích. Nơi đây, sau giải phóng có thể đã thành vườn chim quốc gia rồi. Thời ấy, ban đêm, mỗi khi soi đèn “cổ ngoéo” của Mỹ, trèo lên cây là có thể tóm lấy chim trong tổ hoặc đậu trên cành. Chim dạn lắm…!


Mấy ngày sau đó, chúng tôi quay lại Tân Phú.


Lúc này đã gần đến Tết Nguyên đán Quý Sửu (1973). Tất cả đơn vị được quán triệt về tình hình Hội nghị Pari để thấy được thế và lực của ta và địch trên chiến trường. Đặc biệt là thảm bại của Mỹ sau 12 ngày đêm dùng “pháo đài bay B52” rải thảm Hà Nội và Hải Phòng; khả năng Mỹ sẽ phải kí kết Hiệp định ngừng bắn. Tất cả chúng tôi ai cũng phấn chấn và tin tưởng. Hôm sau, nằm ở “cứ”, khoảng hơn 10 giờ đêm, tôi vặn nhỏ cái radio bán dẫn, lần theo sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, giọng thơ trầm ấm của một nam nghệ sỹ vang lên .Tôi lắng nghe mà rưng rưng, mà tự hào xúc động xen lẫn hờn căm trước tội ác dã man của bọn Mỹ xâm lược, đã dùng máy bay chiến lược B52 huỷ diệt thủ đô Hà Nội- trái tim của cả nước. Bài thơ là sự thôi thúc, giục giã chúng tôi chắc tay súng xốc tới để giải phóng miền Nam. Chỉ một lần nghe mà đến bây giờ tôi vẫn thuộc: Đó là bài“Gửi Hà Nội” của Nam Hà:


 


Đêm hành quân mải miết…


Chiến sỹ bỗng thấy tim mình ngừng đập


Những trái bom của quân thù xâm lược


Ném xuống rồi! Hà nội đó, trái tim ơi!


 Tiếng thét vang vang lay chuyển đất trời


Hãy nghe đây hỡi chúng may, quân cướp nước


 Trái tim ta đau và căm thù đã bầm gan tím ruột!


Chiến sỹ lại đi hăm hở dưới trời mây


 Câu thơ xưa đã vọng lại rồi đây


Nghe tha thiết mỗi đường đi, nước bước


 “Từ thuở mang gươm đi mở nước


 Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long…”


Hà Nội ơi! Có biêt suốt đêm ngày?


 Chiến sỹ lắng nghe từng lời dục giã


Tiếng Tổ Quốc! Tiếng ngày xưa, tiếng mai sau và tất cả


Tiếng mẹ hiền dìu dặt giữa trời quê


 Tiếng nước non năm tháng đi về!


Tôi chưa một lần ra thăm Hà Nội


 Nhưng tôi sinh một ngày. Và Hà Nội…


Ngập Ba Đ ình nắng đỏ rực cờ bay


 Tóc Bác Hồ đẹp tựa áng mây.


 Nghe mẹ nói, mẹ cười…


Mẹ hướng tôi nhìn ra phía Bắc


 Mẹ nuôi tôi và bây giờ tôi đi giết giặc…



 


Và việc gì đến đã đến!


 Ngày 27 tháng Giêng năm 1973, Hiệp định Paris được chính thức ký kết. Hai bên ngừng bắn tại chỗ.


loading...

Phải thừa nhận một thực tế là bộ đội ta không những chiến đấu ngoan cường mà còn rất nhạy bén về chính trị. Tuy vậy, đây đó, vẫn có những đơn vị và cá nhân do chủ quan và ảo tưởng nên đã phải trả giá.


Trung đoàn được lệnh của cấp trên là phải đứng chân bằng được ở các vị trí đã quy định. Bởi vì từ sáng 27 tháng Giêng trở đi, máy bay của Phái đoàn Liên hiệp quân sự bốn bên sẽ bay thị sát, vẽ bản đồ để công nhận các vùng kiểm soát của hai phía. Theo tinh thần của Hiệp định Paris thì sau 27 tháng 1 năm 1973, ở miền Nam Việt Nam sẽ song song tồn tại hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.


Đêm 26/1/1973, đơn vị chúng tôi nhận lệnh đứng chân giành dân, giữ đất ở Tân Phú, Đức Hoà (địa bàn vốn trước đây đã tác chiến quen thuộc). Do ảo tưởng và chủ quan, tin vào việc nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định của quân đội và chính quyền Sài Gòn nên chúng tôi không chuẩn bị phương án tác chiến. Thậm chí, công sự cũng không đào. Cả đêm hôm ấy, ai cũng háo hức chờ cho đến sáng để xem không khí hoà bình như thế nào? Chúng tôi ai nấy, có bộ quần áo nào còn mới là mặc vào để ngày mai có thể gặp gỡ với nhân dân, thậm chí là cả lính nguỵ nữa.


7 giờ sáng ngày 27/1/1973, tất cả chúng tôi đều chỉnh tề quần áo, đi lại thoải mái trong ấp. Trên đầu, cờ Giải phóng (nửa đỏ nửa xanh) tung bay. ấp bên kia là cờ ba sọc của nguỵ quyền Sài Gòn. Thấp thoáng đã thấy một số tên lính thập thò mé bìa ấp. ở bên này, chúng tôi chỉ trỏ… Bỗng hàng loạt đạn cực nhanh AR15 và M79 tới tấp quạt sang phía chúng tôi. Đã có mấy đồng chí trúng đạn bị thương. Tất cả chạy nháo nhác. Lúc này, không có công sự để chiến đấu và ẩn nấp. Pháo từ các căn cứ tiểu khu Hậu Nghĩa, Đức Hoà… dập đến. Ban đầu còn ra xa. Sau vài loạt, đạn đã rơi vào chỗ chúng tôi trú quân. Trực thăng bắt đầu phành phạch bay tới chỉnh pháo và bắn vào những nơi có bóng cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Chúng tôi được lệnh nhanh chóng hạ cờ để khỏi lộ mục tiêu. Địch bắt đầu tấn công bằng bộ binh. Tuy nhiên, chúng cũng dè chừng, không dám tiến sang mà chỉ bắn như vãi đạn về phía chúng tôi. Cũng may, trong vườn có hai cái hầm (trảng xê) lớn của dân đào xuyên dưới gốc bụi tre đã lâu để tránh pháo nên mọi người chui cả xuống đấy. Một điều may mắn hơn là lúc này, chiến sự nổ ra gần như khắp cả miền Nam, do vậy, máy bay địch tập trung chi viện cho những chiến trường trọng yếu hơn. Nếu không, chúng tôi sẽ chết chùm vì bom rồi. Càng về trưa, chiến sự càng ác liệt. Bộ binh địch tuy không vào nhưng cường độ pháo và rốckét thì mỗi lúc một gia tăng. Lại có thêm mấy đồng chí hy sinh và bị thương vì pháo và đạn 20 ly từ trực thăng.


Tiểu đoàn ra lệnh: “Bằng giá nào cũng phải giữ cho bằng được địa bàn đã đứng chân. Nếu để mất, chúng ta sẽ phí phạm xương máu đồng đội và đồng nghĩa với việc thu hẹp vùng giải phóng”. Bởi vì, thế của ta và địch lúc này là thế “da báo”, đan cài nhau. Vùng giải phóng bị thu hẹp có nghĩa là vành đai của chúng được mở rộng. Sẽ bất lợi cho ta!


Chúng tôi lại phạm một sai lầm trong nhận thức và chủ quan trong tư tưởng chỉ đạo. Đã đánh giá sai bản chất xảo quyệt của kẻ địch nên phải trả giá.


Ngay đêm ấy, cấp trên ra lệnh chỉnh đốn tư tưởng, rút kinh nghiệm. Đây là bài học xương máu về sự chủ quan, ảo tưởng. Đối với kẻ địch, ta chỉ có thể nói với chúng bằng súng đạn mà thôi! Đêm đó, chúng tôi chuyển vị trí chống càn sang ấp bên cạnh, sau khi đã chôn cất tử sỹ và khiêng cáng thương binh ra bưng để du kích địa phương chuyển lên cứ của trung đoàn.


Liên tiếp trong những ngày sau đó, chúng tôi phải chống càn, đánh bật các đợt phản kích lấn chiếm của địch. Thế trận giằng co và ngày một ác liệt. Chúng tôi thương vong khá nhiều. Cấp trên phải điều động một số đồng chí ở các đại đội trực thuộc như vận tải, trinh sát, quân y…bổ sung cho các đại đội bộ binh để có thêm lực lượng đánh địch. Lúc này không có quân từ miền Bắc bổ sung. Tôi chính thức thôi, không làm y tá nữa mà chuyển về chiến đấu trong chiến dịch này. Một số đồng chí trinh sát ở D bộ (Tiểu đoàn bộ) cũng được điều xuống trực tiếp chiến đấu ở các đại đội bộ binh.


Hôm ấy, tôi và Nguyễn Văn Hồng (liên lạc đại đội), quê ở Triệu Sơn, Thanh Hoá được bố trí chốt một công sự . Khoảng hơn 8 giờ sáng, sau những đợt pháo kích dữ dội, địch cho máy bay dội bom. Lần này, chúng thay đổi chiến thuật là dội bom trước khi cho bộ binh tràn vào. Sau trái khói điểm từ một chiếc OV10 bắn xuống mấy chiếc A37 bổ nhào. Tôi đứng trong công sự ngước nhìn lên, thấy những trái bom tròn như quả bóng, đen trùi trũi, lao xuống. Tôi ngồi thụp ngay xuống hét to: “Bom rơi ngay chỗ chúng ta!” Liền đó, chỉ nghe huỵch huỵch mấy tiếng (bom nổ quá gần không nghe được tiếng), hơi bom quạt thốc vào hầm như cơn lốc. Công sự chúng tôi rung lắc dữ dội. Đất rơi xuống rào rào, thình thịch. Tôi vừa thụt đầu vào dưới nắp hầm, chợt hú…t… phịch! Một mảng lớn quăn queo của cái đuôi bom, cắm ngay vào chỗ tôi vừa mới rút đầu vào. Hú vía! Nếu chậm một giây thôi, cái đầu tôi đã nát bét (kinh nghiệm cho hay là lúc nào thấy bom lao xuống tròn như quả bóng thì đó chính là bom rơi đúng ngay vị trí của mình. Nếu thấy hình bom dài thì bom sẽ rơi xa). Một trong những trái bom ấy rơi trúng ngay ngôi nhà mà trong đó có mấy đồng chí anh nuôi của đại đội đang trú ẩn cùng với toàn bộ soong, nồi, thực phẩm, ba lô, đồ đạc của mọi người. Khói tan, nơi ấy chỉ còn một hố bom lớn, sâu hoắm. Tối hôm ấy, sau trận đánh, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm nhưng không thể nào tìm thấy di hài của các đồng đã chí hy sinh vì trái bom ấy. Họ đã biến thành tro bụi!


Sau các đợt không kích và và pháo kích dữ dội, bộ binh địch bắt đầu tràn vào. Chúng tôi, những tay súng còn lại, tập trung hoả lực bắn vào những chỗ co cụm và tiêu diệt những tên gần nhất. Những tên sống sót rú lên, chạy bật trở ra. Lại bom, pháo. Kẻ địch không ngờ mật độ bom pháo dày dặc như vậy mà chúng tôi vẫn sống sót được… Ngày hôm đó, chúng chỉ dùng bộ binh phản kích duy nhất một lần. Chủ yếu chỉ dùng hoả lực để khống chế, hòng tiêu diệt chúng tôi.


Giao tranh ngày càng ác liệt. Địch quyết tâm đánh bật chúng tôi ra khỏi địa bàn đứng chân. Chúng tôi quyết tâm bám trụ đến cùng. Nhiều đồng chí ở trung đội trinh sát D8 là những người đang học đại học năm thứ nhất, thứ hai, khoẻ mạnh, đẹp trai, thông minh. Vậy mà sau chiến dịch này, các anh lần lượt hy sinh hầu hết. Trong những ngày cuối của chiến dịch bảo vệ Hiệp định Paris chỉ còn lại anh Nguyễn Thuấn (quê Đồng Lộc, nhà anh gần Ngã Ba Đồng Lộc) nguyên là lính đặc công (đại đội 25) sau đó bổ sung về trinh sát D8. Hết chiến tranh, Thuấn xuất ngũ về địa phương; nay là thương binh 3/4 và đang sinh sống ở quê.


Ngày 01 tháng 2 năm 1973, đại đội 2 – D8 chúng tôi di chuyển chiến thuật đến Tân Phú. Trận đánh hôm ấy, tôi và Nguyễn Xuân Â. (tên viết tắt) quê Xuân Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh ngồi chung một công sự. Ngoài khẩu B40 ra, trận này, tôi giữ thêm khẩu AK của một đồng chí bị thương đi viện. Tối hôm trước, trung đội bố trí chỗ đào công sự sát bờ tre gần góc của một khu vườn. Theo kinh nghiệm chiến đấu, tôi bảo Â: “Cậu nghe tớ, ta đào công sự dịch lên phía trước cách bờ tre chừng 15 mét dưới mấy luống khổ qua (mướp đắng) kia. Nơi này, có phần nguy hiểm nhưng sẽ rất bất ngờ đối với bọn địch. Còn mình lại được an toàn hơn trước bom, pháo và trực thăng vì các loại này thường bắn từ bờ tre trở vào. Khi bộ binh địch vào, chờ cho chúng đến sát công sự mới nổ súng và giữ xác lại thì sẽ không việc gì.” Â. nghe tôi. Chúng tôi đào công sự chiến đấu vào dưới rãnh của luống khổ qua rồi nguỵ trang cẩn thận.


Bảy giờ sáng, địch gọi đại bác từ các căn cứ Đức Hoà, Hậu Nghĩa, Hiệp Hoà nã cấp tập vào trận địa chúng tôi. Lửa khói mù mịt. Các bờ tre bị pháo cày nát, đã có một số công sự trúng đạn, anh em đã hy sinh. Trực thăng quần đảo sát ngọn tre, quạt tung những gì có trên mặt đất, nhằm phát hiện công sự của chúng tôi. Phía tiền duyên, địch đã bắt đầu dàn thế trận. Dứt pháo, chúng nổ súng tấn công ngay vào đại đội 1. Các đồng chí bên đó dũng cảm bắn trả quyết liệt. Bọn địch, lớp chết, lớp bị thương, số còn lại vội tháo chạy trở ra, tiếp tục gọi pháo chi viện. L19 vè vè rồi bất chợt phóng trái khói chỉ điểm. A37 liền lao xuống ném bom. Phía đại đội 1, khói lửa từ những ngôi nhà bốc lên mù mịt. Trước mặt tôi và Â. lúc này có khoảng 8-9 tên, mũ sắt sùm sụp đang bí mật tiếp cận vào sát mấy luống mướp đắng. Tôi ra hiệu cho Â. chờ thời cơ thuận lợi nhất mới nổ súng. Nếu đơn độc chỉ một công sự bắn thì sẽ bị lộ và nhất định sẽ bị khống chế, tiêu diệt. Bọn địch sẽ dùng M72 (một loại hoả tiễn vác vai) sẽ đánh bật công sự chúng tôi ngay. Phía đại đội 1, sau phi vụ bom ấy, bọn lính tràn lên bắn dữ dội và ném lựu đạn vào các công sự phía trước. Tôi đánh mắt sang đó thấy mấy tên lính lôi dưới hai công sự của anh em mình lên bốn đồng chí. Có hai người đã hy sinh. Hai đồng chí bị thương nặng. Chúng bắn luôn. Tốp lính trước mặt tôi chẳng để ý gì chỗ luống mướp đắng, chỗ chúng tôi ngồi. Chúng đang dán mắt về phía đại đội 1 mà không ngờ được chúng tôi ở ngay cạnh chúng. Chờ tiếng súng nổ rộ, tôi ra hiệu cho Â. Cả hai đồng loạt xả đạn. Tôi thấy có những thằng ôm súng nhảy dựng lên rồi mới đổ sấp xuống giống như cảnh đóng phim.


Không thấy tên nào chạy trở ra, chúng đã chết hết. ở cự ly 4-5 mét với hai khẩu AK đồng loạt nổ, chúng không thể nào thoát được!


Tuy nhiên, hình như bọn lính ở bên ngoài phát hiện thấy chúng tôi nên tập trung hoả lực dồn dập bắn vào mấy luống mướp đắng nơi tôi và Â. Cả hai ngồi thụp xuống. Giàn mướp đắng đổ sụp, che hẳn công sự, tạo thành một kiểu nguỵ trang tự nhiên. Nhờ đó, chúng tôi không bị phát hiện. Tôi nói với Â: “Nếu bây giờ, M79 hoặc cối rơi trúng miệng hầm thì cả hai cùng chết . Không thì yên tâm”. Â. hoang mang, cậu ta bảo tôi: “Rút thôi Sơn ơi!”. Tôi trừng mắt: “Mày có điên không?” Â. rên rỉ: “Nằm đây thì chết”. Tôi bảo: “Chẳng thà chết ở đây. Nếu chúng vào thì cả hai cùng ném lựu đạn rồi xông lên bắn rồi cùng nhau hy sinh. Nếu địch không phát hiện ra thì sẽ sống!”. Cậu ta không nghe, cứ nằng nặc đòi “tróc” (rời bỏ) công sự, chạy, trong khi phía trước mặt khoảng 50 mét là bộ binh địch nằm dày đặc; trên đầu trực thăng bay sát ngọn tre, sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ chỗ nào; phía sau, pháo bắn cấp tập. Tôi nhìn xoáy vào mặt Â. nói: “Mày chỉ cần rục rịch trườn lên khỏi công sự là tao bắn ngay chứ không đợi để trực thăng hay bộ binh địch xử mày”. Â. im lặng. Tôi mãi dõi mắt quan sát địch phía trước. Chúng lại tổ chức tấn công vào phía đại đội 1. Tình thế cực kỳ gay go, ác liệt. Bộ đội ta phía ấy chống trả quyết liệt nhưng vì bộ binh địch quá đông và hoả lực rất mạnh nên chúng đã lần lượt đánh chiếm thêm một số công sự nữa. Cũng may lúc ấy, từ phía sau, cối 82 ly của ta bắn lên trước mặt đại đội 1, chỗ bọn lính đang co cụm. Chúng vội vã giạt ra rồi tháo lui cùng những tên chết và bị thương. Khoảng 14 giờ 30, bất ngờ, địch gọi pháo giã cấp tập vào trận địa. Đồng thời, các loại súng bộ binh của chúng cũng đồng loạt xả đạn vào chúng tôi trong màn khói đỏ phân tuyến (lúc đánh nhau, bọn địch ném trái khói đỏ phân chia ranh giới giữa ta và chúng để trinh sát L19 và trực thăng chỉnh bom pháo, tránh bắn lên đầu chúng). Qua màn khói đỏ ấy, tôi thấy bọn địch tháo chạy rất nhanh ra khỏi vị trí của chúng và rút dần về phía tiểu khu Hậu Nghĩa. Trên đầu chỉ còn trực thăng quần đảo nhưng chúng đã bốc lên cao. Tôi chui xuống. Â. vẫn ngồi đấy với gương mặt đầy căng thẳng, và sự im lặng đáng sợ. Một ý nghĩ loé lên trong đầu tôi: “Trời! Lúc nãy, mình doạ bắn hắn, lợi dụng lúc mình bận quan sát địch không để ý, mà hắn liều lĩnh, xử mình trước rồi “tróc” công sự, thì cả hai cùng chết oan uổng!” Tôi chợt rùng mình! Nhưng không dám nói với cậu ta ý nghĩ ấy. Cũng may, bọn địch rút sớm, nếu không, tình huống ấy rất có thể xẩy ra. Tôi bảo Â: “Tụi lính rút rồi! Vậy là thoát. Nếu mày không nghe tao thì bây giờ làm sao còn cả hai thằng”. Hai tay Â. nắm chặt lấy tay tôi: “Cảm ơn mày! Nếu không có mày, chắc tao đã chết rồi”. Sau trận ấy, tôi kể lại cho mọi người nghe, ai cũng bảo: “Cậu nói đúng, lúc hoảng loạn, rất có thể nó làm liều để thoát một mình!?”.


Cuối năm 1976, Â. phục viên. Một thời gian sau khi về địa phương, làm công an xã. Cậu ta “oách” và được việc lắm nhưng hay làm khó dễ dân. Có một lần gặp Â. (những năm 80), tôi nửa đùa, nửa thật: “Nghe nói mày hay làm khó dễ dân lắm phải không? Đừng làm bộ. Ngày xưa chiến đấu ở chiến trường mà “to mồm” được như hôm nay thì chúng tao được nhờ”. Hắn chỉ gãi đầu cười. Đã lâu, tôi không gặp Â. Vì cậu ta đã đưa gia đình vào Tây Nguyên, định cư trong đó rồi…


Tôi còn nhớ, phía sau ấp, chỗ chúng tôi đứng chân chống càn, có một cái ruộng lớn và sâu, vừa trồng lúa vừa nuôi cá tự nhiên. Ngày hôm đó, nhiều trái pháo rớt vào ruộng nên cá chết hết. Cá nhiều đến nỗi, chỉ cần thò tay xuống là chạm phải một lớp cá chết đè lên nhau chừng 20 cm trên mặt bùn. Tôi nhặt đầy 2 bao tải, toàn cá lóc, cá sặt, cá trê…Nhưng, vì đại đội hy sinh mất 4 đồng chí và 5 đồng chí khác bị thương nên chúng tôi phải đổ bớt đi cho nhẹ. Tuy nhiên vẫn phải cố gắng mang theo để đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt vì thực phẩm đã cạn.


Tôi được giao giữ hoả lực B40 ngay sau một thời gian bổ sung về D8 (Tiểu đoàn 8). Khẩu B40 mà tôi đang giữ đã qua tay nhiều đồng chí, họ đã lập được nhiều chiến công xuất sắc; đã từng bắn cháy nhiều xe tăng, tàu chiến, phá huỷ nhiều lô cốt và tiêu diệt nhiều bộ binh địch. Nhưng hầu hết các chủ nhân của nó trước đó đã hy sinh hoặc bị thương. Tôi biết, giữ loại hoả lực này là hết sức nguy hiểm. Chỉ cần bắn một trái là lộ mục tiêu ngay. Bởi khi bắn, khói trắng trùm lên cả một vùng. Bọn địch khiếp sợ B40 nên khi tác chiến, chúng tìm mọi cách tiêu diệt bằng được loại hoả lực lợi hại này. Lúc này, tôi đang được chi bộ tiếp tục thử thách để chuẩn bị kết nạp Đảng. Tôi được công nhận đối tượng Đảng từ tháng 5 năm 1972 và đã làm hồ sơ, nhưng vì bị thương, đi viện… Sau đó lại chuyển sang đơn vị khác nên gián đoạn, do vậy vẫn chưa có cơ hội kết nạp. Tôi vui vẻ nhận vũ khí, mặc dù bấy giờ tôi rất nhỏ con, sức vóc yếu hơn rất nhiều so với các đồng chí khác.


Những ngày tiếp theo, chúng tôi liên tục chịu đựng các đợt càn quét, lấn chiếm của Sư đoàn 25 nguỵ với nhiều tổn thất và thương vong khá nặng nề.


Tôi có một kỷ niệm đau buồn trong chiến dịch này. Đó là sự hy sinh của đồng chí Lê Văn Tuỳ, quê ở Cổ Đạm, Nghi Xuân, Hà Tĩnh (hồi đó cậu ta nói với tôi là ở Xuân Hoa). Hôm đó là ngày mùng 3 tháng 2 năm 1973, địch lại tổ chức phản kích. Ta đánh bật trở ra, chúng lại điệp khúc cái công thức cũ rích là gọi máy bay dội bom và nã trọng  pháo dữ dội vào trận địa chúng tôi. Gần trưa, chiến sự bỗng im ắng. Trận ấy, tôi và Tuỳ chung một công sự. Tôi giữ B40 nên đứng cửa sau, Tuỳ AK, đứng cửa trước. Nghe im lặng, Tuỳ nhô đầu lên quan sát địch trước mặt mà không hề để ý phía trước bên phải. Bỗng “đòm…!”, một tiếng súng mồ côi khô khốc vang lên từ phía ngôi nhà  ấy, cách chúng tôi chừng 50 mét. Tôi chợt nghe Tuỳ “hự” một tiếng nhỏ, rồi ngồi thụp xuống trong hầm. Tôi hỏi: “Gì vậy Tuỳ?”. Không có tiếng đáp. Tôi khom lưng nhìn xuống. Trời! Một dòng máu chảy tràn trên mặt Tuỳ. Tôi lao đến. Tuỳ đã tắt thở! Thì ra, mải quan sát địch phía trước, không để ý, một tên lính đã bí mật bò vào nhà, kê súng lên cửa sổ ngắm, chờ Tuỳ quay mặt sang, liền bóp cò. Viên đạn AR15 xuyên từ hõm mũi ra sau gáy. Cậu ta chết tức khắc, không nói với tôi được câu nào. Tôi kéo người đặt Tuỳ nằm cho thẳng dưới hầm, vuốt mắt rồi bắt hai tay lên bụng. Lần này, chỉ có tôi và Tuỳ nên tôi để anh nằm thẳng được chứ không như hồi tháng 5/1972, lúc anh Chương hy sinh phải để ngồi dựa vào thành hầm. Tôi biết, ngày nhập ngũ, Tuỳ đã có một đứa con trai vì có lần cậu ta kể với tôi. Cậu con trai của Tuỳ năm nay chắc đã 35 hay 36 tuổi rồi (!?) Đêm đó, mọi người phải dỡ nóc hầm mới đưa được Tuỳ lên vì Tuỳ đã cứng như khúc gỗ. Trước khi mai táng, chúng tôi dốc ba lô ra. Tuỳ còn 2 lạng mỳ chính mang vào từ hồi ở Bố Trạch, Quảng Bình. Chúng tôi ghi địa chỉ, ngày giờ hy sinh vào giấy rồi bỏ vào lọ thuỷ tinh, nút chặt lại buộc nilon bên ngoài, giắt vào túi áo, cùng với mỳ chính, dao găm, bi đông, túi thuốc cá nhân… Tất cả được chôn theo. Không rõ giờ đây, hài cốt Tuỳ đã được đưa vào nghĩa trang hay chưa? Đã 33 năm có lẻ!…


 Cán bộ tiểu đoàn lần lượt hy sinh gần hết. Cán bộ đại đội thay thế. Tương quan lực lượng giữa ta và địch ngày càng chênh lệch. Danh sách thương vong ngày một dày thêm. Theo lệnh cấp trên, chúng tôi vẫn buộc phải bám trụ, giữ đất, giành dân. Tuy nhiên, đất thì bom cày đạn xới hoang tàn. Còn dân thì chạy hết vào các vùng địch chiếm đóng. Đối với chúng tôi, Tân Phú trở thành một bãi chiến trường xơ xác đạn bom với những tổn thất nặng nề không thể bù đắp. Hình ảnh ấy mãi in sâu trong ký ức của mỗi người lính C2, D8, E 271 chúng tôi.


Trận đánh cuối cùng của chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari trong đợt 1 diễn ra vào ngày 20 tháng 2 năm 1973. Như vậy là gần một tháng trời bám trụ, chúng tôi dốc toàn lực để đánh trận cuối cùng. Ngày hôm đó cũng như mọi hôm, địch lại nống ra thăm dò rồi dùng bom pháo, trực thăng khống chế, hòng tiêu diệt chúng tôi. Liên tiếp những trận phản kích của địch mỗi khi chúng bị đánh bật ra là liên tiếp các phi vụ oanh tạc của chiến đấu cơ AD6 và A37, F5… cùng những trận mưa pháo và cối 81 ly của địch. Tôi đã có nhiều kinh nghiệm bắn hoả lực B40. Trước khi bắn, lợi dụng địa hình rồi vận động ra khỏi công sự, chọn vị trí bắn thích hợp, nhắm vào chỗ co cụm của địch, nổ súng rồi nhanh chóng ôm B40 lăn mấy vòng, trườn nhanh trở về công sự để tránh hoả lực địch phản kích. Nhờ vậy, tôi tránh được thương vong. Đại đội tôi hy sinh thêm 6 người trong đó có anh Trọng, quản lý đại đội, quê Yên Thành (Nghệ An). Trung đội trinh sát D8 phối thuộc với chúng tôi hy sinh chỉ còn lại 3 người. Tối hôm đó, chúng tôi cáng thương binh ra bưng. Trinh sát dẫn đường, lại đụng phải ổ phục kích của địch. Ba đồng chí trinh sát còn lại hy sinh luôn. Mấy đồng chí bị thương nằm trên cáng cũng chung số phận. Số còn lại phải mở đường máu để ra cứ.


Trở ra bưng Tân Phú, sau đó đơn vị rút về Hội Đồng Sầm thuộc Mỹ Thạnh Đông bên kia sông Vàm Cỏ. Nơi đây là căn cứ mà chúng tôi ở lại để củng cố và chiến đấu trong một thời gian khá dài…


Có thể nói, chiến dịch bảo vệ Hiệp định Pari hết sức ác liệt và gian khổ không kém gì chiến dịch “Nguyễn Huệ”, “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Quy mô, tần suất và cường độ bom đạn cùng các trận càn còn lớn hơn năm Bảy hai. Quân số thương vong cũng không hề nhỏ. Tôi và một số ít các đồng chí khác thoát chết trong các chiến dịch trên là điều nằm ngoài sự hình dung.


Cục diện chiến trường sau Hiệp định Paris có nhiều thay đổi. Tuy ở địa bàn chúng tôi ác liệt như vậy nhưng một số chiến trường khác, ta mạnh hơn nên buộc địch chấp hành các điều khoản của Hiệp định khá nghiêm chỉnh. Đặc biệt ở quân khu 8, 9, lúc bấy giờ, theo chủ trương và sáng kiến của tướng tư lệnh Lê Đức Anh (sau này là Chủ tịch nước), ta chủ động tấn công, tranh thủ giành dân, chiếm đất, mở rộng vùng giải phóng làm cho kẻ địch rơi vào thế bị động. Chúng tố cáo ta phá hoại Hiệp định. Tuy nhiên, khi phái đoàn Liên hợp quân sự Bốn bên đến thị sát thì ta đã cắm cờ ở những vùng đó; đặt chính quyền Sài Gòn trước việc đã rồi…


Còn nữa…

Loading...

TIN LIÊN QUAN