Phan Kính tự là Dĩ Trực, hiệu Tĩnh Trai, sinh vào giờ Dậu, ngày 12 tháng 11 năm Ất Mùi (6-12-1715) tại thôn Vĩnh Gia, xã Lai Thạch, huyện La Sơn, trấn Nghệ An ( nay là xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), là con trai của hai cụ Đông Các Đại học sĩ Phan Quán và cụ bà Nguyễn Thị Tuyên.

           Lên ba, bốn tuổi, Phan Kính đã thuộc nhiều ca dao tục ngữ, phân biệt được nhiều loại cây cỏ chim muông trong vườn. Lên sáu tuổi, bố thấy con thông minh, nhanh nhẹn nên cho học chữ, chẳng bao lâu đã thuộc lòng và chép ám tả được cả quyển “Thiên Gia Thi” không sai sót. Lên 7 tuổi, Phan được bố dẫn sang thôn Tràng Lưu để học với cậu ruột Nguyễn Quýnh – Giám sinh Quốc tử giám. Được cậu kèm cặp, dạy bảo chu đáo, lại học tập rất chuyên cần, lên 8 tuổi đã tập làm thơ phú, sức học đã nổi tiếng “Thần đồng”. Năm Nhâm Dần(1722), xã Lai Thạch có kì thi khảo sát, Phan Kính dù chưa đủ tuổi nhưng vẫn năn nỉ xin Ban giám khảo được dự thi. Thật bất ngờ, hôm yết bảng công bố kết quả thì cậu Kính được đứng thứ nhất. Trong bài thi Kính đã làm bài thơ thất ngôn ca ngợi thời Đường Ngu, trong đó có câu :                                 “Đệ nhất hoa huân tham hoán tưởng                                 Khả tam sự nghiệp đốc tư duy”Nghĩa là :                Nhất lập huân công lòng nổi dậy                                Ba kỳ sự nghiệp chí vươn lên.Xem xong, cậu Nguyễn Quýnh và các vị thức giả trong địa phương có nhận xét: Mới tám tuổi đã có chí lớn thế này,về sau chắc sẽ thành công lớn.         Thời gian này gia cảnh cụ Thiếu Doãn gặp nhiều khó khăn hơn, phải chật vật lắm mới cho Kính đi học được. Thấu hiểu nỗi băn khoăn, vất vả của cha mẹ, Phan dốc sức học hành. Không có giấy, cậu tìm giấy đã viết chữ lộn mặt trái mà viết, nhiều lần phải viết tập trên lá chuối tươi, đêm đêm đem sách ra đọc dưới ánh trăng hoặc ngồi ghé bên ánh đèn dầu của mẹ đang dệt vải. Ruộng đất ít, bố phải nhận cày thêm ruộng rẽ mới đủ ăn. Khi Kính lên 13,14 tuổi thì đã là lao động chính của gia đình. Bao nhiêu điều vất vả cực nhọc trong công việc đồng áng không có điều nào mà chưa nếm trải. Ngày thì lo việc đồng áng, đêm miệt mài kinh sử không chút nghỉ ngơi. Dân làng ai cũng quý trọng, mến phục là người hiếu hạnh.         Mùa hè năm Kỉ Dậu (1729), Phan Kính được bố mẹ gửi ra thành Vinh để học với Ngô Thám hoa đang giữ chức Tham chính ở Nghệ An nhằm chuẩn bị cho việc thi cử sau này.  Mùa xuân năm Canh Tuất 1730, khi các em đã khôn lớn có thể đỡ đần bố mẹ, thể theo ước vọng của con, ông bà Đông Các đã chuẩn bị mọi mặt cho con theo học các vị đại khoa ở Thăng Long. Nhờ sự giới thiệu của Ngô Tham chính, Phan Kính xuống thuyền ra Thăng Long và được Bảng nhãn Hà Tông Huân và Đan Lĩnh hầu họ Vũ kèm cặp. Học ở đâu, Phan cũng biểu lộ bản tính thông minh, hiếu học, vì thế sức học ngày càng tăng tiến khác thường, được các thầy quý mến cho mượn sách để tham khảo thêm. Bạn bè ai cũng phục Phan học rộng mà tinh.         Mùa đông năm Canh Tuất 1730, sĩ tử ghi tên trình văn ở Quốc Tử Giám lên tới bốn năm trăm người mỗi kì thế mà cả hai kì năm đó, Phan Kính đều được đứng đầu nên được suy tôn là người đứng đầu “Nghệ An ngũ tuyệt”         Thời kì ở Thăng Long, Phan Kính thường chơi thân với Trần Văn Trứ con của Hiến sát Trần Văn Hoán, quê ở Từ Ô. Ngoài giờ học tập các môn cử nghiệp, đôi bạn đã đọc thêm sách “bách khoa”  bình luận các sự tích anh hùng kim cổ. Cụ Hiến sát họ Trần rất hài lòng với người bạn xứ Nghệ của con, coi Phan như con cái trong nhà và có lời mời Phan về ở trong nhà để cùng con trai Trần Văn Trứ kết bạn học tập. Mùa xuân năm 1732, khi đôi bạn mới ở với nhau được 1 tháng thì Phan Kính mắc bệnh đậu mùa, bệnh tình ngày càng nghiêm trọng. Rất may có bà cô ruột là Phan Thị Khánh- vợ Mai quận công ở dinh Cẩm Sương quân phòng đến đón về chăm sóc chạy chữa thuốc thang. Cụ Trần Văn Hoán đã nặng lòng thương cảm người học trò thông minh này nên đã cho con là Trần Văn Trứ đem tiền nong, thuốc thang đến chăm sóc bạn hết sức chu đáo. Qua cơn hiểm nghèo, các bạn thân như Trần Văn Trứ, Đặng Trần Côn gọi vui Phan là cậu Hói (rụng hết tóc), có người gọi là thầy cống mặt hoa…         Năm Quý Sửu(1733), đôi bạn trẻ Phan Kính, Trần Văn Trứ cũng đến học với Hoàng giáp Nguyễn Công Khuê đang giữ chức Hữu nghị lang bộ Công. Vừa nắm vững bài giảng thầy dạy ở lớp, vừa đọc sách tham khảo, Phan lại tranh thủ biên soạn cuốn sách riêng làm ra bộ kinh truyện tự sự. Sau khi Phan Kính soạn xong cuốn sách đó, nhiều bạn bè cả những người quen biết đến mượn để sao chép phục vụ cho việc học tập luyện thi đại khoa. Ai cũng thán phục: “Thầy cống Lai Thạch nhà nghèo mà học rộng đến thế”!         Sau năm năm lưu học ở Thăng Long, cuối mùa xuân Ất Mão( 1735), Phan Kính trở về quê dự thi Hương. Kết quả tuy được xếp loại ưu nhưng khi phúc khảo thấy có một chữ phạm húy của chúa Trịnh nên bị bớt điểm và hạ xuống thứ 21. Thi Hương xong, Phan Kính trở lại Thăng long để chuẩn bị kì thi Hội. Nhưng chẳng may, tại khoa Bính Thìn ( 1736) bài thi của Phan Kính khá độc đáo nhưng vì không chịu gò bó vào lề thói cũ nên bị các quan giám khảo đánh hỏng.         Trở về quê, không nản chí, Phan Kính tiếp tục đọc, dịch và xem thêm kinh dịch, thỉnh thoảng  lại sang làng Nguyệt Ao để đàm đạo thơ văn với quan Đông các Nguyễn Hành đang nghỉ dưỡng bệnh.  Anh ruột Đông các Nguyễn hành là Điển mục Nguyễn Quang Trạch rất mực quý trọng Phan Kính và coi như bậc sư huynh. Khi người em Nguyễn Hành tỏ ý vun đắp cho cháu Nguyễn Thị Dinh( chị ruột của La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp với cậu học trò tài ba này, cụ Điển mục ngần ngại vì biết nhà Phan nghèo. Cụ Nguyễn Hành bàn với anh: “ Kính là người đại tài, ắt thành đạt lớn, chẳng bao lâu nữa sẽ thành người”. Cụ Điển mục nghe phải, năm ấy cho cô Dinh vừa tròn 24 tuổi tổ chức lễ cưới. Sau ngày cưới, cô Dinh tham gia lao động đỡ nặng nhọc trong gia đình, cư xử với các em rất thân tình, lo mọi việc để chồng yên một bề đèn sách. Ông bà Điển mục cho dựng một thư trại ở làng Mật để thỉnh thoảng cho con rể Phan Kính để đọc sách, bàn luận văn chương, thơ phú với các cụ Điển mục Đông các.         Mùa hè Đinh Tý(1737), Phan Kính lại ra Thăng Long theo học với Tốn Trai tiên sinh Lê Hữu Kiều là bậc nhân sĩ ở kinh đô, đang giữ chức Thị Lang bộ Công, tước Liêu đình hầu, là thúc phụ của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Tại đây, các bạn thân của Phan Kính như Trần Văn Trứ, Đặng Trần Côn đã có dịp gặp và làm quen với nữ sĩ Đoàn Thị Điểm nổi tiếng văn chương.         Tháng chín năm 1737, sau khi xin phép tạm nghỉ học để về quê chăm sóc vợ con, Phan Kính tiếp tục trở lại Thăng Long học tập. Thời bấy giờ để thi văn sách là căn cứ vào lối bình luận của danh nho, tầm chương, trích cú, khiến thí sinh rối trí không sao nhớ hết. Phan Kính đã đem sách kinh truyện tự sự của mình ra đối chiếu từng sự kiện để đặt ra từng câu hỏi, rồi soạn đáp án, mỗi bài trên dưới 50 câu, vừa tròn 1 năm thì soạn xong và đặt tên cho sách là “Văn lược cú”. Bảng Nhãn Hà Tông Huân đánh giá cao bộ sách này vì nó mang nội dung và tính chất một bộ giáo trình luyện thi mà nước Nam ta chưa có. Học trò đất Thăng Long hết lời ca ngợi, cảm phục tài ba lỗi lạc của Phan, nhiều người đã đến sao chép để làm tài liệu cho con em trong nhà được học tốt hơn.         Khoa thi Hội năm Kỷ Tỵ(1739) có chín đề thi, mỗi sĩ tử chỉ cần chọn một đề, riêng Phan Kính làm luôn cả 9 đề theo thể thơ Tô Đông Pha đời Tống (Trung Quốc). Chỉ tiếc là tài văn mặc dầu hiểu biết uyên thâm nhưng cách hành văn phóng túng không hợp thức nên các quan chấm thi đành phải đánh hỏng. Lần nữa, Phan Kính lại lận đận nơi trường ốc.         Sau khi thi Hội không thành, Phan Kính đến dự khóa học binh thư với Bảng nhãn Hà Tông Huân cho tới tháng 6 năm Canh Thân(1740) mới xuống thuyền trở về Lai Thạch. Bấy giờ mùa màng thất bát, nạn đói xảy ra khắp nơi,  Phan phải mở lớp dạy học để đỡ đần sự túng thiếu trong nhà và có điều kiện học hành, nghiên cứu.               Sau tết Quý Hợi( 1743), Phan Kính trở lại Thăng Long với một nung nấu một quyết tâm: “Quyết chí thành đạt, không thành đạt không trở về nữa”.  Vào kì thi đệ nhất, đệ nhị, bài của Phan đều xếp hạng ưu. Bước sang kì thi đệ tam, tên Phan Kính xếp hạng nhất trong 284 người trúng tuyển. Vào kì thi đệ tứ, bài của Phan Kính xếp loại xuất sắc nhưng qua phúc khảo do phát hiện bài chép thiếu 1 chữ nên cho trúng thứ năm. Khoa thi này do quan Hàn lâm viện thị chế Lê Sĩ Triêm làm chủ khảo, lấy đỗ bảy người trong đó có đôi bạn thân Phan Kính và Đặng Trần Côn.         Ngày 16 tháng Chạp năm Quý Hợi( 30-1-1743), Phan Kính vào thi Đình. Vua Lê Cảnh Hưng đích thân ra đề thi chế sách gồm 10 mục, 100 câu hỏi. Ngay tối hôm ấy, trên sân rồng đèn đuốc sáng trưng, vua Cảnh Hưng chủ trì cùng các quan phụng khảo bắt tay ngay vào việc kiểm bài. Quyển thi của Phan Kính được nhà vua dùng bút son ngự phê “Cho đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ tam danh” (  tức đỗ đầu khoa thi với danh vị Thám Hoa- vì nhà vua yêu cầu không lấy Trạng Nguyên, Bảng Nhãn). Tiếp theo là người bạn thân Trần Văn Trứ được nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp).         Sáng 20 tháng ấy, tổ chức lễ xướng danh, các quan đại thần văn võ trong triều đều mặc triều phục đại lễ tề tựu đông đủ ở điện Vạn Thọ. Vua Cảnh Hưng và chúa Minh đô vương Trịnh Doanh ngự ở chính điện, quan Bộ Lễ nâng bảng vàng lên đặt lên án thư. Quan Hồng tô tự phong truyền chế xướng danh. Đội cung nhạc nổi đàn, kèn, trống, thanh la, não bạt theo nghi thức đại lễ, đội cẩm y rước kiệu ra cửa Nam treo bảng vào vị trí trang trọng ở đình Quảng Văn. Quan Bộ Lễ lên tận chòi cao làm lễ công bố cho các sĩ tử và dân chúng biết rõ họ, tên, tuổi quê quán của các vị tân khoa tiến sĩ. Xong lễ, quan Phủ doãn phụng thiên truyền cho lính dắt ngựa hồng tới và đích thân quan cầm lọng vàng che cho tân khoa Phan Kính về nhà.         Ngày 21 tháng ấy, Thám hoa Phan Kính và các hoàng giáp tiến sĩ tân khoa được mời vào điện Quỳnh Lâm để yến tiệc. Ngày 22 lại được vào nội điện chiêm bái nhà vua. Vua Cảnh Hưng ban cho Thám hoa Phan Kính áo mũ khôi nguyên, cánh hoa bằng vàng, đai lưng bằng bạc khảm đồi mồi hột ngà bọc gấm. Các vị Hoàng giáp, Tiến sĩ cũng được vua ban tặng áo mũ rất sang trọng. Tết Nguyên đán Giáp Tý (1744), nhà vua truyền cho Bộ Lại cấp cho mỗi vị tân khoa ngựa và tiền, cho phép các vị được vinh quy bái tổ. Sau Tết, lần nữa các vị tân khoa vào triều tạ ơn vua, chúa và cáo từ ra về.         Phan Kính ra về quê, được văn thân bản huyện La Sơn tới chúc mừng và có bức trướng bằng lụa tặng Phan Thám hoa thi đỗ do Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm người lầng Tiên Điền soạn văn và Lễ bộ tư vụ Hải thượng Thạch Trai Lê Tán viết, nội dung ca ngợi, chúc mừng và hi vọng “Ngày này hầu là vị tân khoa đứng hàng thứ nhất ở sân triều, ngày sau hầu sẽ là đại thần có công bậc nhất hầu hãy gắng lên “!         Ngày 21 tháng 3 năm Giáp tý( 1744), Phan Thám hoa về đến Nghệ An. Quan trấn thủ Nghệ An đã cùng quan chức, binh lính trong trấn dẫn voi, ngựa, cờ lọng ra ngoài thành nghênh đón. Trước đó, theo lệnh ân thưởng của nhà vua, quan tri huyện La Sơn đã cho cắt 5 mẫu đất ở cánh đồng Phúc Nê, xã Lai Thạch để dựng cho Phan Thám Hoa 5 ngôi nhà lớn, mỗi nhà 5 gian rộng, đồng thời sức cho dân ba xã Lai Thạch, Hòa Lâm, Bình Hồ đắp một con đường lớn từ đầu địa giới huyện La Sơn ở chợ Trổ đến khu nhà mới.         Sáng mồng một tháng tư, quan trấn thủ Nghệ An cho tổ chức buổi tiễn đưa trọng thể.  Mờ sáng, đàn voi ngựa đã được xếp hàng tiến theo đoàn quân rước kiệu, đoàn bát âm của trấn, cờ lọng chỉnh tề. Khi Phan Thám hoa được Trấn thủ mời lên kiệu để về quê thì tiếng nhạc, tiếng trống kèn hòa vào tiếng hò reo của mọi người làm cho không khí tiễn đưa hết sức náo nhiệt.         Từ năm 1744, Phan Kính từng đảm nhiệm nhiều chức vụ: Giám sinh ở Quốc Tử giám, Đốc đồng trấn Sơn Tây, Đốc đồng xứ Thanh Hóa, Thư đốc thị Nghệ An, Đốc đồng xứ Tuyên Quang, Kinh lược sứ, Tham mưu nhung vũ. Vua Càn Long nhà Thanh trọng tài đức của Phan Kính đã gia phong cho ông là “Lưỡng quốc đình nguyên Thám hoa” ban tặng ông một cái áo cẩm bào vương triều, một bức trướng có ghi dòng chữ: “Thiên triều đặc tứ, Bắc Đẩu dị nam, nhất nhân nhi dĩ” ( Thiên triều đặc cách, phía nam Bắc Đẩu, chỉ một người thôi). Ông lâm bệnh nặng và qua đời ngày 7 tháng 7 năm 1761, hưởng thọ 47 tuổi. Vua Lê Hiển Tông và Minh đô Vương Trịnh Doanh thương tiếc tự tay đề bức trướng phúng viếng: “Lưỡng đồ văn hữu vũ, vạn lý hiểm vy di” ( Hai đường kiêm văn võ, vạn dặm hiểm lại bình). Triều đình ban tên thụy là Trung Hiển, truy tặng chức: Hữu thị lang bộ binh, tước Quỳ dương bá, giao cho quan Bộ Lễ cùng tướng sỹ hộ tống linh cữu về mai táng tại quê nhà. Năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), vua Lê Hiển Tông phong sắc cho ông là “Thành hoàng”, hiệu “Anh Nghị Đại Vương”. Để ghi nhận tài năng cống hiến và đức độ của danh nhân Phan Kính, ngày 23- 6- 1992, Bộ Văn hóa thông tin đã ra quyết định 776 công nhận di tích lịch sử văn hóa đền thờ Phan Kính tại xã Song Lộc-Can Lộc. 

Nổi tiếng trên nhiều phương diện nhưng danh nhân Đình nguyên Thám hoa Phan Kính để lại cho hậu thế tấm gương sáng về tinh thần hiếu học, một truyền thống tốt đẹp dòng họ Phan và của con người Hà Tĩnh từ ngàn xưa và cho đến cả hôm nay. 

Các đại biểu về dự Lễ kỷ niệm 250 năm ngày mất danh nhân Thám hoa Phan Kính tại Can Lộc
 

Tiết mục văn nghệ trong ngày lễ

VHNTHATINH

TIN LIÊN QUAN