Ở làng ca trù Cổ Đạm, Nghi Xuân- Hà Tĩnh, ruộng nương còi cọc, trong ngàn cây chỉ có phi lao là xanh. Nhà cửa không phên dậu thấp lè tè, vườn tược xơ xác. Người dân làm lụng cực nhọc, cuộc sống bần hàn. Vậy mà, chỉ cần nhắc đến ca trù, từ người già đến người trẻ đều hứng khởi, mê say

 

Làng Cổ Đạm, Nghi Xuân – Hà Tĩnh đón tôi trong buổi trưa tràn không gian hoài niệm về vùng đất nhân kiệt, địa linh. Là kẻ hậu bối không mấy am hiểu ca phú, không tường cung bậc ngũ âm, tôi chỉ về Cổ Đạm với khao khát đi tìm những đào nương cố cựu của làng hát ca trù năm nào. Tôi đi tìm một kho tàng di sản quý và những báu vật sống đang ngày càng vắng bóng.


Đào nương già và câu hát cũ


 


Những đào, kép ở nơi thôn dã gắn việc nông phu. Những canh hát kịp tàn cùng tiếng gà gọi canh làm say lòng bao tao nhân mặc khách, quan viên, chức sắc, từ bậc nho sĩ đến người bình dân. Ai còn, ai mất? Ôi, những kép đàn tiều phu, những đào nương ruộng rẫy! Trong lam lũ bần hàn, câu hát vẫn không lấm bùn, vẫn trọn vẹn vẻ sang trọng, quý phái, dù thân phận người đàn, người hát từng trải bao tủi hờn, cơ cực.      


 


Tôi về Cổ Đạm đi tìm những đào nương già và những câu hát cũ. Tôi đã được gặp, được nghe. Đất quê nghèo, người quê khổ, sao tiếng hát cất lên từ lồng ngực đào nương già ấy vẫn vẹn tròn âm sắc, vẫn giữ nguyên ngọn lửa đam mê như thuở xuân xanh?


 


Cụ là Phan Thị Mơn, một trong vài đào nương già nhất còn sót lại của làng ca trù cổ. Cụ kể với tôi, 10 tuổi cụ đã được thầy Phan Hưng dạy hát nhuyễn các làn điệu ca trù rồi cùng đào kép trong phường đi hát hầu quan viên khắp xứ Bắc, xứ Trung; vào tận Đồng Nai hát việc làng, việc tổng, hội hè, đình đám. Năm 17 tuổi, quan Bộ Lễ ở Huế ra vời cụ vào hát tiến vua Bảo Đại ở điện Thái Hòa. Thế rồi, đứt gánh giữa đường, 17 tuổi cụ lấy chồng, bỏ câu hát lửng lơ. Cụ nói ví: “Quan thì cách, khách thì về Tàu, nhà giàu lên địa chủ. Có ai nghe nữa mô mà hát!”.


 


Năm mươi năm ngậm câu hát trong dạ, nuốt nước mắt, thương nhớ lắm mà cụ Mơn chẳng có dịp cất lời. Thế rồi, nay bước sang tuổi 87, ca trù đang phục hồi, cụ lại được hát mà giọng hát ngân lên vẫn đắm say, vang rền, nền nã. Không thể nào hiểu nổi! Lối hát ấy, giọng hát ấy, những câu hát ấy đã hòa chung dòng lưu huyết trong cơ thể những đào nương ở đất ca trù.


 


Ba chìm bảy nổi, giọng vẫn mượt mà


 


Cổ Đạm ngày nay xanh tươi, khá giả hơn ngày xưa nhiều nhưng vẫn mang dáng vẻ một sa mạc nhỏ. Ở đây cát lẫn vào người. Ruộng nương còi cọc, trong ngàn cây chỉ có phi lao là xanh. Đất duyên hải này là nơi hứng những cơn bão biển đổ vào, năm nào cũng có một vài trận. Nhà cửa không phên dậu thấp lè tè, vườn tược xơ xác. Ở đất này, người dân làm lụng cực nhọc, cuộc sống bần hàn. Vậy mà, chỉ cần nhắc đến ca trù, từ người già đến người trẻ đều hứng khởi, mê say như khách sành điệu về làng Diềm – Bắc Ninh nghe quan họ cổ, đến làng Khuốc – Thái Bình vào đêm điểm trống chèo…


 


Người Cổ Đạm kể cho tôi nghe về thân phận một đào nương tài sắc nhưng chìm nổi ba đào của làng. Đào nương đó là Phan Thị Khánh, có giọng hát tuyệt vời, sắc đẹp nức tiếng. Năm 18 tuổi, cô lên rừng hái củi, gặp quan tri huyện đi săn. Nhà quan mê đắm sắc đẹp nàng sơn nữ và một đám cưới ép duyên đã xảy ra sau đó. Cô Khánh sinh được 2 người con nhưng đều đoản mệnh.


 


Làm vợ quan cũng không hợp tính, cô xin về quê thay cha mẹ nuôi em. Về làng, cô lại đi hát nổi đình nổi đám. Có quan đốc tờ giám đốc Bệnh viện Vinh mê cô Khánh nên xin được gá nghĩa phu thê. Cô Khánh không sinh con cùng quan đốc nhưng làm nghĩa mẫu chăm sóc chu toàn 10 người con của người vợ cả ông ta. Quan đốc mất, bà Khánh lại về Cổ Đạm, trú trong túp lều lủi thủi ra vào như chiếc bóng. Năm 2000, cơn bão quét qua Nghi Xuân, túp lều ngã đổ. Người em rể cùng các cháu ở thôn Song Phượng, cách Cổ Đạm non 10 km, đón cụ Khánh về nuôi.


 


Năm 1998, ca trù Cổ Đạm bắt đầu phục hồi, cụ Khánh cũng bắt đầu ốm liệt giường. “Thế nhưng lạ lắm! Có hội hát ở huyện, ở tỉnh, người ta vẫn lấy võng khiêng cụ đi. Người thẳng đơ như cây héo trên võng nhưng giọng cụ Khánh vẫn mượt mà, não nùng. Nếu buông rèm mà hát thì chẳng khác gì giọng đào nương ở tuổi đôi mươi” – cụ  Phan Thị Mơn thán phục. Khi ngoài tuổi 90, cụ Khánh không còn nhấc chân ra khỏi giường được.


 


Rất may, các nhà nghiên cứu đã kịp ghi âm những làn điệu ca trù Cổ Đạm cổ mà cụ Khánh đã thuộc nằm lòng trước khi tắt tiếng hẳn và xem đó như báu vật.


Cuộc đời đào nương – giai nhân Phan Thị Khánh cũng ba chìm bảy nổi như thân phận lối hát ca trù. Có lúc hoàng kim, rực rỡ; có lúc chìm đắm, tắt bặt. Đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp vào đô hộ VN, ca trù biến thành hát ả đào và người ta cho đó là trò tiêu khiển.


 


Những đào nương thanh sắc được gọi là con hát. Rồi đến kháng chiến, đào kép ca trù cũng lên rừng xuống biển, quên nghiệp cầm ca của tổ tông. Ca trù Cổ Đạm bặt giọng hơn nửa thế kỷ. Cứ tưởng lối hát ấy đã phải theo những đào kép cuối cùng trở về với đất, cho đến một ngày ca trù Cổ Đạm, trong làn sóng phục hưng các giá trị truyền thống, đã lại hồi sinh… 


 


Huyền thoại thanh sắc


loading...

 


Xưa ở quê, tôi thường nghe câu “thầy già, con hát trẻ”. Song, vận vào những đào nương già ở đất Cổ Đạm thì không phải vậy. Giọng đào Khánh trẻ tươi cho đến ngày rụng tóc, khô xương. Những nghệ nhân dân gian Phan Thị Mơn, Trần Thị Gia, Phan Thị Nga, Hà Thị Bình mà tôi đã đối diện trong những canh hát ngẫu hứng trong chuyến về Cổ Đạm lần này thì đúng là những báu vật sống.


 


Họ đã bước vào tuổi trên dưới 80, song mãi mãi là những huyền thoại thanh sắc. Đập đập, xoa xoa đôi bàn chân phủi cát, các cụ chọn thế ngồi rồi cất tiếng hát, giọng đắm đuối, bay bổng. Nào là tì bà, vọng đại thạch, chúc hộ, bài bông; nào là: nhịp ba cung bắc, rước, sắc bùa, trống quân, bắc phản… Ai đó từng nhận xét: “Tiếng hát ca trù tự nó đã mang sẵn một cây đàn nhiều phím”. Quả là như vậy, tôi đã được nghe những tiếng hát ngọt mềm, tươi xanh mà ảo huyền từ các đào nương ngót nghét 80 tuổi này.


 


Cụ Mơn cất giọng điệu hát mưỡu mượn lời thơ cụ Nguyễn Công Trứ: Ngồi buồn mà trách ông xanh/ Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười/ Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo… Giọng cụ lên cao mà không chói, xuống trầm chẳng thấy bi. Cụ Mơn hồi tưởng: “Xưa, quan viên cầm chầu gõ 7 tiếng cắc là báo hiệu không muốn nghe đào nương hát nữa.


 


Ai bị mời xuống là hổ thẹn lắm, nên đào nương lúc đó phải luyện giọng để hát sắc nét, phong thái phải đài các lịch thiệp, trong thảm thiết tài tình còn chứa chút lẳng lơ”. Đào nương già nheo mắt cười móm mém và tiếp tục nhịp phách. Theo người dân Cổ Đạm, để giữ giọng, trong thời gian nhận hát, đào nương hoàn toàn tuyệt giao chuyện chăn gối. Ở Cổ Đạm còn có một loài ếch, ăn vào sẽ thanh giọng, người theo nghề hát ca trù vẫn thường chọn dùng. Đó là chuyện cầu kỳ khổ luyện. Còn sức lay động thật sự, tôi nghĩ là ở chính hồn người hát. Đào kép thuở xưa thường nếm bao ngọt bùi, cay đắng, trăm bước truân chuyên, vận câu hát vào phận người mà ca, hát mới ngấm, mới đau, mới say…       


 


Xa xôi gì đâu, ngẫm đời cụ Mơn cũng đủ thấy. Đạo diễn Lưu Trọng Ninh thật tinh ý khi mời cụ vào vai mẹ liệt sĩ trong bộ phim nổi tiếng Ngã ba Đồng Lộc. Người mẹ quê ấy bình thản, ung dung, chân thấp chân cao leo lên miệng hố bom vừa ngân nga khúc hát ca trù. Người mẹ quê ấy đồng cảm, sẻ chia với những cô con gái thanh niên xung phong anh hùng trong những phút giây đối diện với cái chết.


 


Những trường đoạn điện ảnh vừa huyễn hoặc vừa tha thiết, vừa ám ảnh vừa bạo liệt. Còn hôm nay, tôi ngồi lặng bên cụ trên chiếc giường tre cũ kỹ dưới mái lều nhỏ vài mét vuông lợp ngói xi măng. Nghệ nhân Phan Thị Mơn vén chiếc mền lỗ chỗ vết rách, chằng chíu những mụn vá nhường chỗ cho tôi ngồi hầu chuyện. Giọng hát của cụ dù da diết, đắm say vẫn chứa nhiều uẩn khúc, u buồn.


 


Cụ ngừng giọng, lại kể chuyện đời: “Gia cảnh bần hàn, tôi sinh được năm người con rồi lo dựng vợ gả chồng. Đứa mô cũng nghèo, tôi còn sống ngày mô cũng chẳng muốn phiền con cháu”. Tuổi già xế bóng, cụ vẫn lọ mọ sống một mình. Thân già héo hắt, cô độc vậy mà ngọn lửa ca trù trong hồn cụ chưa bao giờ tắt.


***


Tôi về Cổ Đạm, được gặp những báu vật sống đất ca trù, đã được nghe câu hát cũ. Gặp những đào nương một thời còn sót lại, mắt tôi chợt cay cay trong một nỗi u hoài không thể định giải. Song, niềm vui đã kịp nhen lên khi những báu vật của tổ tiên sẽ không bị vùi chôn vào lòng đất sâu. Người già trước khi hòa mình trong lòng đất còn kịp truyền lại câu hát cho các lứa trẻ. Con trẻ vùng quê này sinh ra đã ngậm sữa ca trù, lớn lên trong đắm đuối điệu đàn, nhịp phách. Vịn vào giai điệu ngàn xưa ấy, những cát bỏng, gió Lào, bần hàn, gian khó…, nào có sá gì?


 


Giã biệt đất ca trù Cổ Đạm, tôi lâng lâng chợt nhớ những câu thơ thi sĩ Nguyễn Ngọc Phú, người con đất Hà Tĩnh: Bánh đa cong mái nhà lá cũng cong/ Con đường cát giấc mơ đêm cũng cát/ Nhưng câu hát… trời ơi… câu hát/ Không đành lòng nỡ oán trách chi ai…

Ông tổ ca trù


Cụ Nguyễn Phùng, Chủ tịch CLB Ca trù Cổ Đạm, cho biết theo sách Đại Nam sử ký, lối hát ca trù ở Cổ Đạm xuất hiện từ thế kỷ 16. Người ta không cắt nghĩa được ca trù hình thành như thế nào, song già trẻ trong làng đều thuộc nằm lòng một truyền thuyết. Xưa kia, làng Cổ Đạm có chàng Đinh Lễ, con nhà nghèo nhưng chịu khó dùi mài kinh sử và đỗ đạt cao. Vì ghét thói đời xu nịnh, lại không màng danh lợi nên chàng không chịu làm quan.


Một hôm, Lễ được một cụ già dặn dò rồi cho một khúc gỗ ngô đồng. Chàng y lời dặn, đẽo thành cây đàn. Tiếng đàn phát ra một âm sắc khác thường, không lảnh lót mà khoan thai, không réo rắt mà trầm đục. Từ đó, Lễ hằng ngày ôm đàn và hát những giai điệu do mình ngẫu tác. Về sau, tiếng đàn của Lễ đã khiến cho công chúa Bạch Hoa bị câm đã bật giọng oanh vàng. Chàng được lưu lại trong cung để hát hầu vua, hoàng hậu và các quan đại thần. Rồi Lễ được vua gả công chúa làm vợ, hai người về Cổ Đạm sinh sống và trở thành cặp đào kép đầu tiên của xứ cát này. Làng Cổ Đạm hiện vẫn còn đền thờ Đinh Lễ và xem ông như ông tổ ca trù.


 


Giáo phường Cổ Đạm từng là trung tâm ca trù của Nghệ An, Hà Tĩnh và là giáo phường lớn nhất ở Bắc Trung Bộ một thời. Danh nhân Nguyễn Công Trứ, người con đất Nghi Xuân, cũng là một kép đàn khét tiếng thuở xưa của ca trù Cổ Đạm. Ông được coi là người đặt lời hát nhiều nhất cho ca trù. Khi vào triều làm quan, ông đã đưa ca trù bước khỏi xóm làng, ra khỏi đình miếu dân dã để vào cung đình như một nghệ thuật bác học.


Bài và ảnh: UÔNG THÁI BIỂU

nld

Loading...

TIN LIÊN QUAN